Hiển thị các bài đăng có nhãn Tây Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tây Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng

Quốc Lộ 14 cơ bản đã hoàn thiện


  
Đó là trao đổi của Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng với Tuổi Trẻ sau chuyến thăm, thị sát tình hình thực hiện dự án nâng cấp mở rộng quốc lộ 14 và dự án mở rộng đường băng sân bay Pleiku (Gia Lai) ngày 11-3.

< Hầu hết quốc lộ 14 đến nay đã được thảm nhựa, kẻ sơn... không còn là “con đường đau khổ” kéo dài suốt nhiều năm qua. 

Bộ trưởng Thăng nói: “Bản thân tôi cũng nhận được nhiều thông tin người dân kêu ca về quốc lộ 14. Tuyến đường này rất quan trọng với Tây nguyên nhưng vì nhiều lý do phải thi công kéo dài. Nhưng về tiến độ chung thì vẫn đảm bảo.
Ngoài việc nguồn vốn khó khăn, mặt bằng chưa được bàn giao kịp thì năng lực của các nhà thầu cũng là lý do làm người dân bức xúc.



< Đoạn thuộc Gói thầu số 2, dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng đường Hồ Chí Minh đoạn Kon Tum - Pleiku. 

Trước việc này, gần đây Bộ GTVT đã cương quyết “trảm” các nhà thầu kém năng lực, cắt bớt khối lượng và thực hiện nhiều biện pháp mạnh nên đường đến nay đã cơ bản rất đẹp, mặt đường láng nhựa xe chạy rất ổn định. Đây là tín hiệu rất đáng mừng”.





















Đoạn Quốc lộ 14 nằm giữa Gia Nghĩa và Dak Song- Gần Khu di tích Nâm Nung

Báo cáo với bộ trưởng, Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh cho biết giai đoạn 2 của dự án nâng cấp mở rộng quốc lộ 14 đoạn từ Tân Cảnh (Đắk Tô, Kon Tum) kéo dài về Chơn Thành (Bình Phước) có tổng chiều dài 553km đã thảm nhựa được trên 470km, các đoạn đi qua các đô thị hiện nay đã đưa vào sử dụng trên 130km. 
Dulichgo

Đến đầu tháng 3, đang là giai đoạn lý tưởng của thời tiết mùa khô Tây nguyên nên tất cả nhà thầu, các đơn vị đã tập trung tối đa máy móc, nhân lực để phấn đấu đưa tuyến đường này về đích trước tháng 6-2015.


Khám phá những ngọn Núi ở Gia Lai


Núi Chơ Hơ Rông (còn có tên là Chư Hơ Rông) nằm ở thị trấn Chư Prông, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, cách thành phố Pleiku khoảng 10km về phía Đông Nam.

Ngọn núi cao 1.600m có nguồn gốc từ ngọn núi lửa đã tắt từ lâu. Do đó, núi tuy cao nhưng dáng mềm mại, thoai thoải và được ví như “Bộ ngực kiều diễm của một cô gái trẻ".

Quanh chân núi đất đai phì nhiêu, cây trồng xen với cây rừng rậm rạp... đã trở thành nơi sinh sống của nhiều bản làng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên trước kia nên ở đây đã lưu giữ nhiều di chỉ khảo cổ học của thời kỳ đồ đá, đồ gốm, là minh chứng cho một nền văn hóa dân tộc mà ngày nay các nhà khoa học đang khai quật và nghiên cứu.



Đường lên núi tuy dốc thấp, nhưng quanh co, uốn khúc, đất mềm để lộ các tảng đá lớn. Đôi chỗ vách đá lộ ra một khe suối nhỏ, nước chảy lặng lẽ, hay một con thác dốc, nước len lỏi qua các hố sâu. Quanh chân núi, có rất nhiều cây trồng và cây rừng xen kẽ với nhau, tạo một không gian thoáng mát. Đôi chỗ vách đá lộ ra một khe suối nhỏ hay một con thác dốc, nước thác ở đây góp phần tạo nên vẻ duyên dáng ở nơi này.
Đến đây du khách sẽ có cơ hội được leo núi vượt đèo và ngắm thác.



Cây cỏ trên đường đi thật đa dạng, các mảng cây lá rộng thường xanh, mọc xen với các loài cây rụng lá theo mùa, làm cho cảnh trí luôn thay đổi trên mỗi bước đi. Núi Chơ Hơ Rông đang là địa điểm thu hút đông đảo khách du lịch đến tham quan và tìm hiểu thiên nhiên, đặc biệt mang lại cảm giác mạnh cho những ai thích mạo hiểm.

Gia Lai còn có những ngọn núi nổi tiếng khác như núi Chư Đăng Ya (huyện Chư Pả, tỉnh Gia Lai), núi Hàm Rồng - Ở cửa ngõ quốc lộ chạy từ Buôn Ma Thuột sang Gia Lai, thành phố cao nguyên Pleiku đón chào bạn bằng núi Hàm Rồng với vàng rực hoa cúc quỳ.



Từ điểm nhìn đó, bạn sẽ thấy rõ núi Hàm Rồng được tách làm đôi để hõm giữa cho dòng nham thạch phá vỡ miệng phễu tròn chảy ra, hình thành nên các vùng đất badan màu mỡ.

Núi Hàm Rồng (còn gọi là núi Chư Hơ Đông, núi Hòn Rồng) là miệng núi lửa nổi tiếng nhất Tây nguyên bởi nó cao hơn 1.000m so với mực nước biển, là đỉnh cao nhất khu vực Pleiku với cái miệng tròn xoe hình phễu khổng lồ với đỉnh núi hõm xuống với cái miệng núi loe tròn như miệng chén.

Một chuyến du lịch để khám phá những ngọn núi tại Gia Lai sẽ rất vất vả vì có thể mất cả một ngày đêm nhưng bạn sẽ được đền bù thật xứng đáng với những khung cảnh cực kỳ hoang sơ.

Theo: Du lịch, GO! - Tổng hợp

Khu du lịch Măng Đen (Kon Tum)


Với không gian tự nhiên, nguyên thủy của hệ sinh thái, sự hoang sơ và thuần khiết như bông hoa rừng vừa hé nở là yếu tố tạo cho Khu Du lịch Sinh thái Măng Đen có sức hấp dẫn mà ít nơi nào có được, đã làm biết bao người rung động khi lần đầu đặt chân đến Măng Đen.

< Với nhiệt độ bình quân trong năm dưới 20°C, Măng Đen có khí hậu mát mẻ quanh năm.

Tây Nguyên được xác định là một trong 7 vùng du lịch đặc thù của Việt Nam trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, Khu Du lịch Sinh Thái Măng Đen thuộc huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum là một trong 31 khu vực có quy mô và tiềm năng du lịch đặc biệt nổi trội ở Việt Nam được Nhà nước ưu tiên đầu tư để phát triển thành khu du lịch quốc gia.



< Những cánh đồng lúa chín vàng dọc theo các sườn đồi thoai thoải ở Măng Đen.

Khi nói đến vùng văn hóa - du lịch Tây Nguyên là chúng ta nghĩ ngay đến không gian văn hóa cồng chiêng, kho tàng sử thi, đến kiến trúc nhà rông, đến cà phê Buôn Mê Thuật và các ca khúc sôi động, giàu sức sống... Tất cả những hình ảnh, ngôn ngữ và âm thanh đó tạo nên một Tây nguyên bản năng, mạnh mẽ, đầy sức lối cuốn và cám dỗ.



< Măng Đen có sự đa dạng về văn hóa của các dân tộc, trong đó dân tộc Mơnâm, Xêđăng, Kadong, H’rê chiếm hơn 97% dân số.

Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên đến năm 2020, tỉnh Kon Tum có vị trí, vai trò hết sức quan trọng của vùng Tây Nguyên trong phát triển Du lịch của cả nước và hợp tác phát triển du lịch của khu vực tam giác phát triển Campuchia – Lào – Việt Nam, trong đó: Đẩy mạng việc đa dạng hoá các sản phẩm du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng và thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên, lịch sử, văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số; tập trung phát triển du lịch sinh thái rừng núi, thác hồ. Phát huy có hiệu quả tài nguyên khí hậu đặc thù để hình thành và phát triển du lịch nghỉ dưỡng cao cấp ở Măng Đen, là dự án ưu tiên nghiên cứu đầu tư thời kỳ 2012-2020 vùng Tây Nguyên.



< Những ngôi nhà sàn nằm nép mình bình yên bên sườn núi.

Thế mạnh về vị trí địa lý của tỉnh Kon Tum cùng nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú phân bố trên cả tỉnh như: Lòng hồ Ya Ly, lòng hồ Pleikrông, vườn quốc gia Chưmomray, khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh ... cùng nhiều di tích lịch sử cách mạng: Ngục Kon Tum, Ngục Đắkglei, tượng đài chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh..., di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật: Chùa Bác Ái, Nhà thờ Gỗ, Chủng viện..., lễ hội: Cồng chiêng, mừng nhà rông, mừng lúa mới... đặc sắc, đã tạo ra sức hấp dẫn tổng thể cuốn hút du khách đến với Kon Tum, đến với Khu Du lịch Sinh thái Măng Đen.



< Thiên nhiên ban tặng cho Măng Đen nhiều thác nước tuyệt đẹp.

Từ thị xã Kon Tum, đi dọc Quốc lộ 24 (về hướng Quảng Ngãi) khoảng 50km, du khách sẽ đến Khu du lịch sinh thái Măng Đen (Kon Plông - Kon Tum), điểm khởi đầu của tuyến du lịch Con đường xanh Tây Nguyên.

Măng Đen có vẻ đẹp hoang sơ và thuần khiết giống như hình ảnh của cô gái thôn quê mới lớn: Dung dị, mộc mạc và hồn nhiên. Bởi vậy, nghỉ dưỡng sinh thái là thế mạnh chủ đạo của Măng Đen. Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, quanh năm mát mẻ, với bạt ngàn rừng thông, với cảnh quan hữu tình của hồ, thác, với hệ sinh thái nhân văn của các dân tộc thiểu số như: Xê Đăng, Kdoong, Mơnâm,...tạo cho Măng Đen khoác trên mình một chiếc áo đẹp nhiều màu sắc.

Măng Đen có vị trí quan trọng về giao lưu kinh tế, đặc biệt là vị trí trung chuyển nằm trên tuyến quốc lộ 24 nối liền tỉnh Kon Tum với các tỉnh duyên hải miền Trung; nằm trên trục hành lanh kinh tế Đông - Tây qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y đi qua quốc lộ 24 tới các khu du lịch ven biển miền Trung.



< Cảnh quan núi rừng thiên nhiên thơ mộng.

Thông qua cửa khẩu này, khách du lịch có thể tới các khu du lịch tại Tây Nguyên (Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng) trong đó có Măng Đen của Kon Tum, miền Trung Việt Nam (Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Quảng Ngãi), Nam Lào, Đông - Bắc Campuchia, Đông Bắc Thái Lan.

Măng Đen có vị trí rất đặc biệt, nằm giữa 2 ngọn đèo lớn là đèo Măng Đen và đèo Viôlắk (Quảng Ngãi), khu vực Măng Đen hầu như còn nguyên sinh, diện tích rừng chiếm trên 80% diện tích tự nhiên, có trên 4.000 ha rừng thông tạo thêm tính đa dạng và có nét tương đồng với Đà Lạt. Măng Đen nằm ở độ cao trên 1.000 m so với mặt nước biển, nhiệt độ trung bình dao động18oC - 20oC. Dân tộc thiểu số chiếm gần 90% tổng dân số.



< Thác Dak Ke tuyệt đẹp.

Xuất phát từ việc coi trọng giá trị nguyên sơ, hoang dã là "của quý" không chỉ riêng của Măng Đen, của Tây Nguyên, của Việt Nam mà là sự "hiếm có" của thế giới trong bối cảnh đô thị hóa và toàn cầu hóa hiện nay. Xuất phát từ nhu cầu du lịch sinh thái đang ngày càng phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới, tỉnh Kon Tum đã và đang hướng đến xây dựng Măng Đen thành một vùng nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tham quan, giải trí... đúng với ý nghĩa đích thực của du lịch sinh thái.



< Một hồ nước trong xanh nằm trên núi.

Quan điểm phát triển đối với khu du lịch sinh thái Măng Đen là mong muốn có một sản phẩm đặc thù, một thương hiệu độc đáo và hình ảnh riêng biệt cho Măng Đen, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của khách du lịch hiện đại. Sản phẩm du lịch sẽ phải thân thiện với thiên nhiên, với các hệ sinh thái tự nhiên, có sự tham gia của cộng đồng dân cư với những nét văn hóa độc đáo về văn hóa bản địa của họ. Măng Đen được xác định là khu du lịch sinh thái quốc gia, thì sản phẩm du lịch phải có chất lượng, có tầm cỡ quốc gia và phải kết nối với các vùng du lịch trọng điểm khác trong tổng thể du lịch của vùng Tây Nguyên, khu vực duyên hải miền Trung và Nam Trung trung bộ.



< Những ngôi biệt thự nằm ẩn mình trong rừng thông xanh.

Tại hội thảo quy hoạch xây dựng vùng du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen và đô thị Kon Plông đến năm 2030, Ông Ngô Trung Hải - Viện trưởng Viện Kiến trúc và Quản lý thô thị Việt Nam đã nhận định rằng: Măng Đen phải tìm được cái gì rất riêng cho mình để tránh khỏi bước sai lầm mà các đô thị du lịch nghỉ dưỡng khác của Việt Nam đang vấp phải.



< Hoàng hôn tím buông xuống núi rừng Măng Đen.

Để tạo ra các sản phẩm đặc sắc, khắc biệt, mang dấu ấn địa phương, cần kết hợp khéo léo giữa các di sản phi vật thể và vật thể, các công trình kiến trúc tiêu biểu, nghệ thuật ẩm thực với cảnh quan và thiên thiên nhiên tươi đẹp của địa phương. Với thực trạng tiềm năng, lợi thế, sự thu hút đầu tư, sản phẩm du lịch đặc trưng đang được phát triển mạnh ở Măng Đen như: Nuôi cá thương phẩm, nhân giống thành công các loài cá nước lạnh (cá tằm, cá hồi), sản phẩm trà sim, rượu sim, rau hoa xứ lạnh... Măng Đen có nhiều điều kiện để tạo dựng thương hiệu nổi bật trên bản đồ du lịch Việt Nam cũng như bản đồ du lịch thế giới.

Truyền thuyết 7 hồ ở Măng Đen (Kon Tum)


Bảy hồ và ba thác nước tuyệt đẹp ở khu du lịch sinh thái Măng Đen (H.Kon Plông, Kon Tum) được người Mơ Nâm địa phương lý giải bằng câu chuyện đắm màu huyền thoại. Già làng A Đồ Ren ở làng Kon Bring (xã Đăk Long, H.Kon PLông) kể, người Mơ Nâm gọi Măng Đen là T'măng Deeng, nghĩa là đất bằng (rộng lớn).

Yang Plinh nổi giận

Trong truyền thuyết “Bảy hồ và ba thác”, ngày xưa Măng Đen là vùng bằng phẳng, đẹp lạ lùng với rừng thiêng xanh mênh mông trải dài như dải lụa. Dù đẹp vậy nhưng Măng Đen lại không có người và loài vật sinh sống.



Một hôm, Yang Plinh (tương tự như Ngọc Hoàng thượng đế) từ trên trời nhìn xuống Măng Đen cảm thấy buồn bã, bèn gọi 7 người con trai đến, gồm: Gu Kăng Đam, Gu Kăng Lung, Gu Kăng Rpong, Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu Kăng Săng và em út là Gu Kăng Pô. Yang Plinh phán: Các con hãy xuống Măng Đen lập làng. Mỗi người được phong thần cai quản một vùng đất, gọi là Huynh.

Xuống lập làng, 7 người con của Yang Plinh lấy vợ, nhưng các bà vợ phải biến thành loài vật. Vợ của Gu Kăng Đam, Gu Kăng Rpong biến thành heo thần gọi là Chu Huynh, vợ của Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu Kăng Săng biến thành nai thần gọi là Zoi Huynh, vợ của Gu Kăng Lung biến thành cá thần gọi là Ca Huynh và vợ của Gu Kăng Pô biến thành thằn lằn thần gọi là Pô Huynh. Các bà vợ có trách nhiệm cai quản những con vật cùng loài với mình. “Các ngươi suốt đời không được ăn thịt các loài do vợ mình biến thành. Nếu phạm lỗi thì sẽ bị trừng phạt”, Yang Plinh căn dặn các con. Dulichgo



Nhờ đất đai màu mỡ, thời tiết thuận hòa, các vị thần lại dạy cho con cháu dựng nhà, làm rẫy, săn thú, dệt vải, đan lát, hát ca, đánh cồng chiêng…, 7 làng của 7 anh em ở Măng Đen ngày càng sung túc. Mỗi năm, những người con của Yang Plinh về báo cáo với cha mình về công cuộc chăn dắt loài người ở Măng Đen. Sau này, cuộc sống ở trần gian say mê hấp dẫn, người làng ngày càng đông đúc nên các thần phải thường xuyên đi đây đó chăn dắt giúp đỡ dân và họ không về trời nữa.Dulichgo

Tuy vậy, mỗi năm khi lúa đã về đầy kho, heo gà đầy sân, thịt thú rừng cũng như cá ở suối được sấy khô gác đầy trên chạn bếp, con trâu, con bò, con dê thả trong rừng béo mập là lúc 7 vị thần dạy dân làm lễ ăn trâu cúng Yeeng (gọi là ăn trâu mừng năm mới). Những lần cúng Yeeng, người dân mặc đồ đẹp nhất, uống rượu và ăn những món ngon nhất, ca hát nhảy múa từ đêm này sang đêm khác. Trong những lần cúng Yeeng, nhất thiết phải có cây nêu vẽ hình trang trí thể hiện cuộc sống xung quanh họ, hình núi non, sông nước và trên cùng là hình mặt trời. Thông qua cây nêu (tượng trưng cho đường lên trời) các Huynh báo cáo với Yang Plinh về cuộc sống ở trần gian.



Trong các lễ hội này, các vị thần cũng vui chơi nhảy múa, ăn uống với dân làng. Thế rồi có một lần, do vui chơi, ăn uống cả tuần, những người con Yang Plinh quên mất lời cha dặn, ăn cả thịt cùng loài với vợ mình biến ra, chỉ có người em út là Gu Kăng Pô ở làng Huynh Pô là còn nhớ lời cha không ăn thằn lằn. Từ trên trời nhìn xuống, Yang Plinh nổi giận, dùng lửa trừng trị 6 đứa con trai lớn. Giữa lễ hội đông vui, giông tố nổi lên đùng đùng, 6 cột lửa trên trời đánh xuống 6 làng của 6 người anh, lửa phụt lên mù mịt, đất đá biến thành nước chảy tràn khắp vùng, nhà cửa tài sản, con người cũng như các Huynh đều bị nhấn chìm trong biển lửa. Dulichgo

Người em út làng Huynh Pô, dù không ăn thằn lằn nhưng biết mà không nhắc nhở các anh mình cũng bị trừng trị bằng một cột lửa. Nhưng Yang Plinh cho lựa chọn một là dân làng phải chết hoặc Gu Kăng Pô phải chết. Vì quá thương xót dân làng nên Gu Kăng Pô tự nhận cái chết về mình và xin mang theo một đứa nhỏ để hầu hạ. Các cột lửa từ từ tắt sau khi đã nuốt vào lòng đất toàn bộ con người và tài sản của 6 làng và 6 miệng cột lửa đó biến thành 6 cái hồ lớn. Dân làng Huynh Pô sống sót chuyển đi nơi khác và tại miệng hố lửa làng này cũng biến thành một hồ nhỏ. Trong khi Yang PLinh trừng phạt những đứa con trai, có ba cột lửa bắn lên và biến thành ba thác nước ở Măng Đen bây giờ.  



Vùng đất của núi lửa

Theo già làng A Roi ở làng Kon Bring (xã Đăk Long, H.Kon PLông), truyền thuyết “bảy hồ, ba thác” xuất hiện từ bao giờ không ai rõ. Tuy nhiên, không chỉ có chuyện kể ở trên mà còn có một số dị bản lưu truyền qua lời kể của người Mơ Nâm ở vùng Măng Đen. Theo ý kiến một số người, có thể vùng đất này ngày xưa có núi lửa, vì theo truyền thuyết lửa đã biến vùng này thành 7 cái hồ lớn nhỏ, đồng thời đất ở đây là đất bazan, phù hợp trồng các loại cây công nghiệp, nhất là cà phê, khác với H.Ba Tơ (Quảng Ngãi) và Kon Rẫy (Kon Tum) sát bên chỉ có đất thịt pha cát, hoặc tỷ lệ đất bazan trong đất rất ít. Dulichgo

Theo Sở VH-TT-DL tỉnh Kon Tum, các hồ ở Măng Đen hiện lớn nhất là 3 ha, nhỏ nhất 0,5 ha. Đó là các hồ Toong Đam, Toong Ly Lung, Toong Zơ Ri, Toong Ziu, Toong Xăng, Toong Rơ Poong và Toong Pô. Theo tiếng Mơ Nâm, Toong có nghĩa là “nước”. Tuy nhiên, những truyền thuyết về các hồ này đang dần mai một nên cần phải viết thành sách dạy lại cho học sinh ở địa phương.

Điểm du lịch lễ 30-4: Thị Xã Gia Nghĩa (Daknong)

Thị xã Gia Nghĩa, trung tâm của tỉnh Đắk Nông, được thành lập ngày 27/6/2005, có tổng diện tích tự nhiên 284km2. Thị xã Gia Nghĩa có 8 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường Nghĩa Đức, Nghĩa Thành, Nghĩa Phú, Nghĩa Tân, Nghĩa Trung và các xã Đăk R’Moan, Quảng Thành, Đăk Nia.
Vị trí địa lí của thị xã Gia Nghĩa: đông giáp huyện Đăk Glong, tây giáp huyện Đăk R’lấp, nam giáp tỉnh Lâm Đồng, bắc giáp huyện Đăk Song.



Tour liên quan:Tour du lịch lễ 30-4: Buôn Ma Thuột- Gia Nghĩa (3 ngày 3 đêm)

Nằm trên quốc lộ 14, cách Sài Gòn 225km, cách Buôn Ma Thuột 120km, được bao bọc bởi hệ thống núi đồi rộng lớn, với các hồ đập của hai công trình thuỷ điện Đắk R’tih huyện Đắk R’Lấp và Đồng Nai 3&4 huyện Đắk Glong.

Thị xã Gia Nghĩa là trung tâm của tỉnh Đăk Nông, đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống các tuyến đường giao thông cùng nhiều dự án lớn về hạ tầng đô thị, du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng và các dự án về thương mại, khách sạn - nhà hàng. Với nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, âm vang cồng chiêng khắp núi rừng, cùng các món ăn đặc trưng tây nguyên: Cà đắng, canh chua lá giang, cơm lam…., hệ thống nhà hàng khách sạn phong phú và đa dạng phù hợp với nhiều đối tượng. Thị xã Gia Nghĩa sẽ là địa điểm du lịch thú vị và hấp dẫn với du khách.
1. Địa hình:

Thị xã Gia Nghĩa nằm về phía Tây Nam Tây Nguyên, địa hình phức tạp, gồm nhiều dãy đồi núi mấp mô xen kẽ nhiều khe suối tự nhiên lớn, nhỏ tạo thành dạng địa hình bị chia cắt mạnh. Địa hình thị xã có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, do vậy không thuận lợi trong canh tác nông nghiệp, xây dựng giao thông, xây dựng các công trình, nhưng lại tạo cảnh quan sinh động và thơ mộng cho khu đô thị thị xã có dáng vẻ đặc trưng riêng biệt của miền núi Tây Nguyên.
2. Cơ cấu hành chính:
Thị xã Gia Nghĩa được thành lập theo Nghị định số 82/2005/NĐ-CP, ngày 27 tháng 6 năm 2005 của Chính phủ, trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Đắk Nông (cũ) là xã Quảng Thành, xã Đắk Nia và thị trấn Gia Nghĩa để thành lập 08 đơn vị hành chính mới thuộc thị xã Gia Nghĩa, bao gồm 05 phường và 03 xã. Với tổng diện tích tự nhiên là 28.374 ha, dân số trên 46 ngàn người; có 19 dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn gồm: Mạ, M’Nông, Thái, Nùng, Tày, Mường, H’Mông, Khơ me, Dao, Gia Rai, Hoa, Cao lan, Ê đê, Cho ro, Sán dìu, Sán chí, Sán chay, Xê đăng, Kinh; có 3 tôn giáo chính đang hoạt động gồm: đạo Thiên chúa, đại Tin lành, đạo Phật.
3. Mối quan hệ vùng:
Thị xã Gia Nghĩa có vị trí quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội trong mối quan hệ liên vùng, có mối giao lưu thuận lợi theo tuyến đường Bắc-Nam (QL14); là đầu mối nối vùng Tây nguyên với vùng trung tâm kinh tế lớn như: Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh; đồng thời là đầu mối nối vùng Bắc Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum) với Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) và các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ như: Ninh Thuận, Bình Thuận,…. thông qua quốc lộ 28; có nhiều thác lớn đẹp như: Liêng Nung, Thác 3 Tầng … thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ du lịch. Trong tương lai sẽ có đường sắt đi qua nối khu mỏ khai thác bô xít với các khu công nghiệp của các tỉnh Bình Phước, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là lợi thế trong quan hệ phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai của thị xã, sẽ có điều kiện tăng cường các quan hệ hợp tác đầu tư phát triển.
4. Lịch sử - Văn hoá:

- Trước năm 1975, Gia Nghĩa thuộc tỉnh Quảng Đức, khi đó Gia Nghĩa là cấp xã, có 3 thôn Nghĩa Đức, Nghĩa Thành, Nghĩa Tín. Sau khi tỉnh Quảng Đức nhập vào tỉnh Đăk Lăk, Gia Nghĩa trở thành thị trấn huyện lỵ huyện Đăk Nông.
Đến năm 2005 thị xã Gia Nghĩa được thành lập theo Nghị định số 82/2005/NĐ-CP, ngày 27 tháng 6 năm 2005 của Chính phủ.
- Lịch sử phát triển văn hóa:
Công tác giáo dục: Thị xã Gia Nghĩa đã đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2007. Hiệu suất đào tạo tăng dần qua từng năm học.
Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao: mức hưởng thụ văn hóa của người dân ngày càng cao. Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở như: có 7/7 bon đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ có nhà văn hóa cộng đồng. Phong trào xây dựng đời sống văn đã phát triển về số lượng lẫn chất lượng.
Công tác phát thanh, truyền hình từng bước được mở rộng và nâng cao về diện tích phủ sóng và quy mô phục vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân.
- Di tích lịch sử trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa:
Hiện tại trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa có điểm di tích lịch sử cách mạng Nhà bia tưởng niệm đường hành lang chiến lược Bắc – Nam thuộc thôn Đồng Tiến xã Đăk Nia. Đây là địa điểm liên lạc khai thông đường Hồ Chí Minh – đoạn Nam tây nguyên đến Đông Nam Bộ.
- Các lễ hội trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa:
Tỉnh Đăk Nông nói chung và thị xã Gia Nghĩa nói riêng có nền văn hóa hết sức phong phú, đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc, theo số liệu của sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch tỉnh Đăk Nông thì đến nay đồng bào dân tộc M’nông còn 31 lễ hội truyền thống. Thực hiện đề án bảo tồn, phát huy lễ hội, hoa văn, cồng chiêng và nhạc cụ của đồng bào M’nông”, ngành văn hóa tỉnh Đăk Nông đã tổ chức khôi phục được 17 lễ hội của đồng bào dân tộc M’nông như: lễ hội Mừng mùa, lễ hội Đâm trâu, lễ Mừng lúa mới, lễ Kết nghĩa, lễ Tắm lúa, lễ Ăn cơm mới, lễ hội Rnglăp bon( lễ hội Đoàn kết các bon làng), lễ hội Tách Năng Yô, lễ Đón khách, lễ hội Sum họp cộng đồng, lễ Cúng thần rừng… Đây là những lễ hội truyền thống đặc trưng của dân tộc M’nông trên vùng đất cực nam của Tây Nguyên.
5. Khí hậu, thuỷ văn:

Thị xã Gia Nghĩa nằm trong tiểu vùng khí hậu Cao Nguyên Dak Nông – Lâm viên Bảo Lộc, thời tiết mát mẻ, ít có gió bão, không có mùa đông lạnh rất thuận lợi cho phát triển ngành du lịch, nghỉ dưỡng.
Khí hậu chia thành mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa bình quân năm là: 2.339 mm, phân bố chủ yếu vào mùa mưa (khoảng 90%). Về mùa khô, khí hậu khô hạn, độ ẩm thấp. Sự phân bố không đồng đều này đã ảnh hưởng đến sản xuất nhất là sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân.
- Nhiệt độ bình quân năm là: 220C
- Số giờ nắng bình quân năm từ 1.600 - 2.300 giờ.
- Lượng mưa bình quân năm là: 2.339 mm.
- Lượng bốc hơi bình quân năm là: 1.000 mm.
- Độ ẩm không khí bình quân năm là: 820C.
- Gió có hai hướng chính theo mùa: mùa khô gió Đông Bắc; mùa mưa gió Tây Nam.
6. Tài nguyên nước:
Nhìn chung các con suối trên địa bàn thị xã tương đối nhiều, nhưng lòng sông hẹp, dốc, lũ lớn trong mùa mưa và kiệt nước trong mùa khô. Vì thế hạn chế khả năng cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt. Hiện tại suối Đăk Nông là nguồn nước chính cho khu vực trung tâm thị xã. Suối Đăk Nông đang được ngành điện khai thác để xây dựng thủy điện và một phần phục vụ nước sinh hoạt cũng như nhu cầu của thị xã.
Nước ngầm: nguồn nước ngầm trong vùng cao nguyên Đăk Nông nói chung và trên địa bàn thị xã nói riêng có nhiều hạn chế. Nước ngầm được khai thác bằng các giếng khoan, giếng đào, nhưng do nước ở tầng sâu nên chi phí đầu tư lớn.
7. Tài nguyên đất:

Diện tích tự nhiên của thị xã Gia Nghĩa có 28.384,4 ha. Trong đó: - Đất rừng: 4.471,5 ha (rừng tự nhiên: 4.415,4 ha; rừng trồng: 56,10 ha). - Đất không có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp: 5.336,2 ha. - Đất nông nghiệp và đất khác: 18.576,7 ha. 8. Tài nguyên du lịch:
Thị xã Gia Nghĩa là một điểm du lịch khá hấp dẫn, có nhiều đồi thông, suối Đăk Nông, các hồ đập. Trong tương lai không xa thị xã Gia nghĩa sẽ trở thành một điểm du lịch sinh thái nổi tiếng với hệ thống thác Liêng Nung, hồ Trung tâm, Hồ Thủy điện Đăk R’Tih kết hợp với việc quảng bá các lễ hội văn hóa của các dân tộc anh em trên địa bàn thị xã.
8. Tài nguyên khoáng sản:
Trên địa bàn thị xã có các loại khoáng sản như bô xít, đá Grannit, sét Cao Lanh và một số khoáng sản quý hiếm như Vomfram, Thiếc, Alumin…Hiện tại tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam đã triển khai thăm dò tổng thể và thí điểm khai thác bô xít một số vị trí. Gần đây, đã triển khai xây dựng nhà máy khai thác bo xít ở xã Nhân Cơ, huyện Đăk R’lấp. Trong tương lai sẽ tiến hành khai thác bô xít quy mô lớn, góp phần phát triển kinh tế xã hội của thị xã và giải quyết việc cho người lao động trên địa bàn thị xã.

Tin lễ 30-4: Buôn Ako Dhong (Buôn Ma Thuột- Daklak)

Buôn AKô Đhông hay buôn Cô Thôn, làng Ma Rin là một buôn làng người Ê Đê ở thành phố Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk. AKô Đhông theo tiếng địa phương có nghĩa là buôn đầu nguồn có lẽ vì có rất nhiều con suối bắt nguồn từ khu vực này Như Ea giang, Ea Dung, Ea Ding, Ea pủi, Thun M’nung và đặc biệt là trong đó có cả con suối lớn nhất ở Buôn Ma Thuột là suối Ea Nuôl.

Nơi đây có thể xem như là một hình mẫu của một buôn làng người bản địa Tây Nguyên với những mái nhà dài truyền thống và một phong cảnh đẹp như tranh, hiện buôn AKô Đhông đang là một trong những điểm đến không thể thiếu trong tour du lịch đến với Ban Mê.
buon ako dhong2
Buôn AKô Đhông có chừng 300 người sống trong khoảng 30 ngôi nhà dài xếp dọc theo con đường chính của buôn. Nhà dài của người Ê Đê là nơi sinh sống của nhiều thế hệ trong một đại gia đình theo chế độ mẫu hệ, nên ngôi nhà có thể dài từ 15m đến hơn 100m, tùy theo số lượng người. Cứ mỗi lần gia đình có con gái lấy chồng, ngôi nhà sẽ được cơi nới thêm chiều dài.
buon ako dhong8
Nhà được xây dựng bằng vật liệu gỗ, tre, nứa lợp mái tranh. Có kết cấu cột kèo bằng gỗ tốt, các đà ngang, đòn dông luôn được đẽo bằng tay. Nhà được thưng vách và lót sàn bằng các phên nứa đập nát, mái lợp cỏ tranh rất dày. Đỉnh mái cách sàn nhà từ 4m đến 5m.
Bố cục nhà dài chia làm 2 phần: nửa phía trước gọi là “Gah” chứa các vật dụng như: ghế chủ, ghế khách, bếp chủ, ghế dài Kpan, cồng chiêng và là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung trong gia đình. Nửa phía sau là “Ôk” là chỗ ở của các đôi vợ chồng, đặt bếp nấu ăn chung.
buon ako dhong13
Đến với AKô Đhông, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những ngôi nhà dài nổi tiếng, mà còn được khám phá và trải nghiệm một không gian văn hóa rất đặc trưng của đồng bào nơi đây.
Vị trí
Buôn Akô Đhông nằm ở cuối đường Trần Nhật Duật, phường Tân Lợi, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 2km về hướng Bắc.
Di chuyển
Từ Buôn Ma Thuột, đến buôn AKô Đhông, bạn có thể đi bằng taxi/xe ôm/thuê xe máy
Phương tiện cá nhân
Từ trung tâm thành phố theo đường Phan Chu Trinh, đến ngã tư Trần Nhật Duật, rẽ trái theo đường Trần Nhật Duật (đường đất, đường vào khách sạn Yang Sing) đi 500m là đến nơi.
buon ako dhong1
Phương tiện công cộng
Taxi
  • Taxi Mai Linh
Địa chỉ: Số 36 Ngô Gia Tự, Tp. Buôn Ma Thuột – Điện thoai: 05003.819.819
  • Taxi Tây Nguyên
Địa chỉ: Số 318 Phan Bội Châu – Tp. Buôn Ma Thuột – Điện thoai: 05003. 838.838
  • Taxi Đăk Lăk
Địa chỉ: Số 113 Lê Thánh Tông – Tp. Buôn Ma Thuột – Điện thoai: 05003. 818.181
Tour liên quan

Tour du lịch lễ 30-4: Buôn Ma Thuột- Gia Nghĩa (3 ngày 3 đêm)

Tin lễ 30-4: Tịnh Xá Ngọc Ban (Buôn Ma Thuột- Daklak)

Tịnh xá tọa lạc ở Km 6 Quốc lộ 26, phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Dăk Lăk. ĐT: 050.865246, 050.865266. Tịnh xá thuộc hệ phái Khất sĩ, Phân đoàn 1 Ni giới.
Tịnh xá được Ni sư Thích Nữ Hoa Liên xây dựng vào năm 1969 trên diện tích 1 ha 11 sào 58 m2 do ông Antoine Delpane, Tổng Giám đốc Công ty C.H.P.I. tại Buôn Ma Thuột hiến cúng. Lễ khánh thành được tổ chức trọng thể vào ngày 28 – 3 – 1970.

Đến năm 1999, ngôi tịnh xá bị hư hỏng nặng, Ni sư trụ trì Thích Nữ Hoa Liên đã tổ chức đại trùng tu vào ngày 25 tháng 2 năm Kỷ Mão, xây dựng ngôi chánh điện bát giác (theo truyền thống của Hệ phái Phật giáo Khất sĩ) gần 300m2 và các công trình khác như: trai đường, nhà khách, ni xá, động quả phúc thờ Bồ tát Di Lặc, ngọn ngũ hành thờ Bồ tát Quan Thế Âm… tạo nên một cảnh quan trang nghiêm, đẹp đẽ.

Vườn tịnh xá
Ngọc Ban là ngôi tịnh xá nổi tiếng của Ni giới Khất sĩ ở Cao nguyên. Chung quanh ngôi chánh điện là một vườn hoa đẹp, khoe sắc quanh năm.
Gốc cây thủy tùng vô cùng quý giá được một người kiểm lâm mua rồi hiến cho chùa. Nhà chùa đã phải tìm người đẽo tượng từ khắp nơi, hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến đẽo tượng Phật nhưng khi đụng dao búa vào đều gãy hết, chỉ có 1 nhóm thợ ở Hội An (Quảng Nam) là đẽo được. Sự kỳ lạ còn ở chỗ với các nhóm thợ khác thì cây rất cứng, nhưng với nhóm thợ này gỗ lại rất dễ đẽo, đẽo xong thì ngay lập tức cứng lại.
Nghe câu chuyện kỳ lạ về gốc cây thủy tùng đã được đúc tạc thành bức tượng Phật đặt tại gian chính điện của tịnh xá Ngọc Ban (TP Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk), chúng tôi không khỏi ngạc nhiên và cảm thấy lý thú về những sự kỳ diệu xung quanh bức tượng này. Trò chuyện cùng chúng tôi, Ni sư Nhàn Liên là trụ trì tại tịnh xá Ngọc Ban này kể lại về nguồn gốc của gốc cây thủy tùng vô giá này. Sự vô giá của nó là bởi hiện tại cả Tây nguyên chỉ còn vài cây thủy tùng còn sống, mà mỗi cây có giá tới cả chục tỷ đồng.
cây thủy tùng , 2000 năm tuổi , người đẽo tượng
Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Chừng 6-7 năm về trước, ở tận huyện Krông Năng, phía Đông Bắc tỉnh Đăk Lăk có một nhóm 4-5 người đồng bào Ê Đê hì hục đào một gốc cây to có đường kính tới 2m nằm lẩn sâu trong những lớp bùn đất. Gốc cây đó chỉ còn một phần thân nhưng rất lớn tới 3 người ôm mới hết. Lúc ấy tình cờ có người kiểm lâm đi ngang qua thấy, biết là cây gỗ quý hiếm nên đã ngỏ ý mua lại, và nhóm người dân tộc đồng ý bán với giá 10 triệu đồng. Ngay sau đó, người kiểm lâm thuê xe xúc, máy bơm rồi bơm nước xuống rồi hút bùn lên, để không ảnh hưởng tới rễ cây.
Sau đó thuê xe cẩu đến cẩu lên. Phải mất đến 2 ngày đào bới với sự hỗ trợ của máy móc hiện đại mới đưa được phần còn lại của cây thủy tùng lên mặt đất!”. Một sự lạ là khi đào được gần 4m sâu dưới lòng đất, khi cho xe cẩu tới mọi người đều nghĩ với một gốc cây như thế thì dễ dàng lấy lên được, vì xung quanh gốc chỉ là bùn nhão, rất dễ để cẩu cây thủy tùng lên mà không sợ ảnh hưởng tới rễ cây.
Thế nhưng chẳng hiểu sao năm lần bảy lượt cố gắng hết sức mà người lái xe cẩu không làm nhúc nhích chút nào gốc và phần thân còn lại của cây được, mà còn bị gãy trục cẩu nữa. Mọi người lại tiếp tục xúc, hút bùn lên, đào sâu tới hơn 8m, phải huy động tới hai chiếc xe cẩu khác mới đưa được cây thủy tùng rời lên được mặt đất.
Vợ người kiểm lâm này vốn là phật tử rất tín tâm, nhiều năm đi chùa lễ Phật biết chuyện nên nghĩ rằng gốc cây đặc biệt này phải có gì đó nên khuyên chồng hiến cúng lên nhà chùa, chứ bán đi thì uổng, mà nhà mình chưa chắc đủ phúc duyên giữ lại. Người kiểm lâm thấy vợ phân tích đúng quá nghe lời đã liên lạc với sư bà là cố Ni trưởng Thích Nữ Hoa Liên, Viện chủ Tịnh xá Ngọc Ban trước đây, mong được hiến cúng về Tịnh xá.
“Khi người kiểm lâm cho người chở phần còn lại của cây Thủy Tùng đến Tịnh xá, gốc cây có đường kính hơn 2m, và sư bà cũng như các ni sư lúc ấy nhìn thì thấy tạc tượng Quán Thế Âm Bồ Tát là hợp lí, mà phải là tượng đứng. Ông ấy cũng nói rằng vợ chồng ông ấy hiến cúng Tịnh xá gỗ quý, nhưng phải dùng để tạc tượng Quán Thế Âm Bồ Tát chứ không được dùng làm việc gì khác, nếu sư bà đồng ý thì vợ chồng ông ấy mới để lại. Nếu không, ông ấy dành hiến cúng tới chùa lớn. Thế rồi sư bà tiếp nhận và nói sẽ sớm tiến hành tạc thành bức tượng lớn để đặt ở chính điện cho phật tử đạo hữu tới chiêm bái!”, Ni sư Nhàn Liên kể lại.
Kỳ lạ bức tượng chọn người tạc đẽo
Nhận được gốc cây lớn vô cùng quý giá như thế, đích thân sư bà Ni trưởng Thích Nữ Hoa Liên lặn lội tới Gia Lai, rồi ra Hà Nội, tìm khắp các nơi thợ tạc tượng danh tiếng nhất rồi mời về. Lạ kỳ một điều là hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến nhưng đều lắc đầu trở về vì không làm được. Hỏi ni sư Nhàn Liên vì sao, ni sư trả lời:
“Hồi ấy sư bà mời thợ thuyền về đông lắm, dựng sạp dựng lều cho mọi người tạc tượng tránh mưa tránh nắng bên hông Tịnh xá này. Gốc cây thủy tùng nằm ở đó được dựng lên để các nhóm thợ tạc đẽo. Nhưng việc dựng được gốc cây này lên cũng gian trân lắm. Hai chiếc xe cẩu cỡ lớn được điều tới để dựng gốc cây lên nhưng mãi mà vẫn không được.
cây thủy tùng , 2000 năm tuổi , người đẽo tượng
Cứ luồn dây cáp bằng thép vào để nâng lên thì cái thì đứt, cái thì tuột, rồi đang nâng lên nửa chừng thì bị chết máy. Nhiều người lấy làm lạ lắm nhưng không thể giải thích được vì sao. Sư bà phải đích thân lập đàn chay cúng nguyện mất một buổi, sau đó mọi sự mới thuận buồm xuôi gió. Lúc ấy chỉ cần một chiếc cẩu nâng lên rất nhẹ nhàng!”.
Thế nhưng việc tạc đẽo tượng lại tiếp tục xảy ra những sự cố. Khi các thợ bắt tay vào công việc thì chẳng hiểu sao búa đục cái thì gãy, cái thì mẻ hết. Gốc cây thủy tùng lúc ấy bỗng dưng cứng lại như đá, không thể nào đục đẽo được.
Hết nhóm thợ này đến nhóm thợ khác đến làm việc đều bị như thế cả. Chỉ cần đưa đục chạm vào gõ mấy cái thì y như rằng chiếc đục sẽ bị mẻ, dùi thì gãy, có người thì gõ cả vào tay. Biết bức tượng phật mà sư bà định tạc đẽo kén duyên người tạc, nên sư bà lại lặn lội đi khắp nơi tìm các nhóm thợ về thực hiện công việc. Sau đó, có người mách nước có một nhóm thợ ở Quảng Nam có tay nghề rất cao, thế là sư bà lặn lội tìm tới một xưởng gỗ ở Hội An tìm được một nhóm thợ nhận lời về Tịnh xá làm việc. Nhóm thợ này là 5-6 nghệ nhân, đều là những chàng trai trẻ độ tuổi 20-22 tuổi, chưa ai lập gia đình.
Về Tịnh xá, họ sớm bắt tay vào tạc tượng. Họ còn trẻ, nên vừa làm việc hăng say, vừa bật nhạc, hát hò vui nhộn. Các ni sư cũng hiểu, cùng trợ duyên cho họ, thêm động lực chuyên tâm công việc. Gỗ cây thủy tùng lúc ấy chẳng hiểu vì sao lại mềm như nến sáp, chỉ cần dùng dao nhỏ cũng gọt được nên chừng 2 tháng sau, bức tượng hoàn thành theo bản thiết kế của những nghệ nhân.
Nhưng, lúc ấy khuôn mặt tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trông na ná những hình tượng bên Đài Loan, sư bà không chịu nên đã tìm hình ảnh tôn tượng Ngài trông thật Việt Nam và yêu cầu sửa lại, rồi công việc cũng thành tựu như ý.
Công việc vừa hoàn tất thì bức tượng nhanh chóng “đóng băng”, rắn hơn đá hoa cương không có gì đục lại được. Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Quả thật việc đục tạc tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là một công việc đầy khó khăn, trải qua nhiều công đoạn và hầu như lúc nào cũng có những sự việc lạ kỳ. Có lẽ vì chữ duyên với bức tượng như thế này nên không phải ai cũng hiệp tâm làm được. Từ một gốc cây thủy tùng như thế, giờ thành một bức tượng vô cùng đẹp đẽ và quý giá như thế này quả là một kỳ công!”
Ni sư Nhàn Liên cho biết, khi nhà chùa nhận gốc cây này về, có người bên kiểm lâm đã tới tìm hiểu và đánh giá về tuổi của gốc cây này, mọi người đều trầm trồ và ngạc nhiên khi nhóm kiểm lâm giám định gốc cây thủy tùng này cũng đến hơn 2000 năm tuổi. Mà theo kinh điển Phật giáo, cây gỗ có tuổi như vậy thì đã được “thọ thần”. Chính vì thế việc tạc đẽo tượng cũng lắm sự lạ kỳ không thể lý giải được.
Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Từ khi tôn tượng Quán Thế Âm Bồ Tát hoàn thành được đặt tại chính điện của Tịnh xá Ngọc Ban này, đại chúng thập phương đến chiêm bái ngày càng thêm đông, ngưỡng vọng thành tâm cầu nguyện, và có nhiều sự linh ứng, ai cầu gì đều được Ngài phù hộ, ứng nghiệm ngay.
Sức mạnh từ bi độ nguyện nơi Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cảm ứng tới rất nhiều người, mà chỉ tự thân mỗi người với tất cả tâm lòng thành kính cảm nhận được những linh ứng và sự kỳ diệu!”. Hiện tại, bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng cây gỗ thủy tùng này được đặt tại Tịnh xá Ngọc Ban, tại gian chính điện từ lúc hoàn thành đến nay. Ni sư Nhàn Liên cho biết, nhiều lần có một số người đến thương lượng mua lại bức tượng này với giá vài tỷ đồng, nhưng đây là quà tặng của chùa nên không được phép bán.
Nói đến chuyện liệu có bị trộm mất hay không, ni sư Nhàn liên cười cho biết có mấy lần vì muốn dịch chuyển tượng sang một chút để lau chùi, sửa sang lại mái nhà đều không được dù đã huy động cả chục người đàn ông lực lưỡng đến. Ni sư Nhàn Liên cho biết: “Rất có thể những hiện tượng lạ từ gốc cây thủy tùng nghìn năm tuổi này có được ấy là do đã được thần hóa, qua mấy nghìn năm trải nắng mưa và qua biết bao đời người đã chứng kiến được những điều kỳ lạ nên “thọ thần”. Các nhà khoa học có đến tìm hiểu về gốc cây và cả bức tượng này nhưng đều chưa đưa ra được kết luận vì sao gốc cây có lúc cứng như đá, có lúc lại mềm như sáp.
Chuyện một gốc cây có tuổi đời 2000 năm với vô vàn những điều kỳ bí xung quanh việc tạc thành bức tượng Phật vẫn được người dân nơi đây truyền tai nhau, và với sự linh thiêng kì diệu đó, mỗi người khi đến chiêm bái bức tượng này đều tự dặn lòng mình phải sống từ bi hơn, làm nhiều việc thiện hơn để cuộc sống được thanh thản.
Tour liên quan

Tour du lịch lễ 30-4: Buôn Ma Thuột- Gia Nghĩa (3 ngày 3 đêm)

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2013. Chia sẻ kinh nghiệm du lịch - All Rights Reserved
Share by Download Templates
Proudly powered by Blogger