Hiển thị các bài đăng có nhãn Huế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Huế. Hiển thị tất cả bài đăng

Huế cũng có một "Đà Lạt" (A Lưới- Huế)


Được ví như 'Đà Lạt' của Thừa Thiên Huế, huyện vùng cao A Lưới là lựa chọn số 1 cho những ai muốn trốn cái nắng chói chang, bức bối những ngày hè tại miền Trung.

A Lưới là huyện vùng cao phía Tây của tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích tự nhiên 1.224,64 km2. A Lưới có vị trí địa lý kinh tế, quốc phòng vô cùng quan trọng của tỉnh Thừa Thiên Huế và khu vực Bắc Trung Bộ. Nơi đây có dãy Trường Sơn hùng vĩ; là thượng nguồn của 5 con sông lớn; A Lưới nằm án ngữ tuyến biên giới phía Tây tỉnh Thừa Thiên Huế, giáp hai tỉnh Salavan và SêKông của nước bạn Lào.



< A Lưới là một huyện miền núi biên giới của tỉnh Thừa Thiên-Huế, tiếp giáp với Lào ở phía Tây.

Toàn huyện có 21 đơn vị hành chính, bao gồm thị trấn A Lưới và 20 xã là: Hồng Thuỷ, Hồng Vân, Hồng Trung, Hồng Kim, Hồng Hạ, Bắc Sơn, Hồng Bắc, Hồng Quảng, A Ngo, Sơn Thủy, Nhâm, Phú Vinh, Hồng Thái, Hồng Thượng, Hương Phong, Hương Lâm, Hương Nguyên, Đông Sơn, A Đớt, A Roàng.



< Ven đường, hoa dại nở hoa tím ngắt, những con suối róc rách bên đường...

Thị trấn A Lưới là trung tâm huyện lỵ, cách thành phố Huế khoảng 70 km về phía Tây. Dân số huyện A Lưới năm 2013 hơn 46.000 người, mật độ dân số bình quân 37 người/ km2 ; có 5 dân tộc: Pa Kô chiếm 37,5%; Tà Ôi 37,2%; Ka Tu 10,5%; Pa Hy 10,5% còn lại là dân tộc Kinh 9%.


< Thác A Nôr vẫn còn giữ nguyên nét hoang sơ vốn có.

Là vùng đất có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống đã tạo cho A Lưới những bản sắc văn hóa riêng có của từng tộc người từ tiếng nói đến ăn, ở, mặc, phong tụ... đồng hành bên cạnh những nét văn hóa chung của toàn tỉnh.

Ở độ cao 700m so với mặt nước biển, A Lưới có khi hậu tương đối ôn hòa, mát mẻ, nhiệt độ trung bình 21oC. Sáng sớm và chiều tối, mây trắng phủ kín sườn đồi. A Lưới nằm trên tuyến quốc lộ 49 nối đường Hồ Chí Minh với quốc lộ 1A. Đây là trục giao thông Đông-Tây quan trọng kết nối A Lưới với quốc lộ 1A, thành phố Huế và các huyện đồng bằng.



< Làng mạc yên bình dưới chân núi với những ngôi nhà sàn.

Cách thành phố Huế 70 km về phía Tây, đường lên A Lưới quanh co uốn lượn với những đồi núi nối đuôi nhau khiến phượt thủ không khỏi choáng ngợp. Xa xa những đám mây trắng xóa vui đùa trên những ngọn núi trông đẹp đến lạ lùng.



< Thu hoạch lúa.

Đi hết đèo A Co, đèo cuối cùng cũng là đèo hiểm trở nhất với chiều dài 16km, đổ dốc xuống là thị trấn A Lưới. Thị trấn xinh đẹp chạy dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh, nhỏ xinh nằm giữa thung lũng bao bọc bởi núi rừng trùng điệp.



< Cô gái Pa Kô.

Thác A Nôr cách trung tâm huyện chỉ 3 km về phía Đông Bắc được xem là ngọn thác đẹp nhất vùng sơn cước này. A Nôr được ví như dải lụa giữa đại ngàn Trường Sơn. Nó vẫn giữ nguyên nét hoang sơ vốn có. Thật tuyệt khi được đắm mình trong dòng thác trong mát và ngước nhìn bầu trời xanh cao vút.



< Gùi hàng ra dọc đường để bán.

A Lưới có tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua với chiều dài trên 100 km chạy dọc với những cánh rừng nguyên sinh xanh ngút một màu. Những bản làng của đồng bào Tà Ôi, C’Tu, Pa Kô… bình dị nằm bên sườn đồi.



< Cảnh sắc bình dị nên thơ.

Những đứa trẻ ngây ngô nhìn chăm chú các vị khách vùng xuôi đầy tò mò và thích thú. Chiều chiều, người dân gùi củi đi về trên đường.

Giữa chốn sơn thủy hữu tình ấy được vi vu lái xe ngắm cảnh là một trải nghiệm cực kỳ thú vị.



< Tạm biệt A Lưới với những đoạn đường uốn khúc quanh co.

Ngoài ra còn có vô số nơi khiến bạn ngỡ ngàng như suối nước nóng Tôm Trung, thác Pông Chất, hang động Kềnh Crâm, hầm A Roàng… và hàng trăm ngọn suối cùng nhiều con sông uốn lượn bao quanh thung lũng A Lưới như sông A Sáp, A Lin, Tà Rình...

Dưới cái nóng nực bức bối của chốn thị thành, tạm quên đi mọi thứ và thử khám phá cuộc sống chậm rãi của miền sơn cước A Lưới xinh đẹp, là một trải nghiệm thú vị, đáng nhớ.

Điểm du lịch 30-4: Đèo Hải Vân

duong tau tren deo hai vanÐèo Hải Vân nổi lên trên nền nước biển xanh ngắt của biển Ðông, trải dài khoảng 20 km từ Huế đến Ðà Nẵng. Ðó là một vùng đèo cao nằm dọc theo bờ biển dài 1600km của Việt Nam. Trong nhiều thế kỉ, vùng đèo này đã tạo thành một bức tường ngăn cách giữa nền văn hoá Chàm cổ ở phía Nam và nền văn minh kế thừa của tộc Việt tại vùng châu thổ sông Hồng, là đường phân chia giữa những ảnh hưởng văn hoá từ phía bắc và phía nam châu Á.




Ngày nay, đèo Hải Vân là hàng rào khí hậu giữa vùng nhiệt đới chịu ảnh hưởng của gió mùa Nam Á là miền Nam với khí hậu 2 mùa: mùa khô và mùa mưa và miền Bắc nằm trong khí hậu cận ôn đới. Ði trên quốc lộ số 1, bạn sẽ cảm nhận được làn gió mát mơn man đồng thời thưởng thức những phong cảnh tuyệt vời trên dọc đường đi tới một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam.

khuc cua tren deo hai van


Từ Ðà Nẵng, theo quốc lộ số1, chúng ta vượt sông Nam Ô, kề với một làng trùng tên vốn nổi tiếng khắp đất nước là nơi sản xuất ra loại nước mắm ngon nổi tiếng. Bắt đầu từ đây, con đường dốc dần lên, như sợi chỉ trắng quấn trên triền núi xanh lục, cho tới khi lên đến đỉnh sẽ thấy toàn cảnh vịnh và thành phố bên dưới hiện ra đột ngột, đẹp đến sững sờ. Xa xa, dải cát trắng phau của bãi biển Non Nước trải rộng tới tận chân trời, vượt ra tận những tảng đá chênh vênh của Ngũ Hành Sơn.

duong deo hai van


Từ trên độ cao 496m, ngọn đèo của những đám mây đại dương này đem lại cho ta những phong cảnh đầy ấn tượng về dải bờ biển kéo dài của Việt Nam. Trên đỉnh đèo có miếu nhỏ thờ thần núi được hình tượng hoá bằng bức tượng một con hổ - vị chúa tể sơn lâm, trong khi có một số miếu nhỏ nằm dọc đường để tưởng nhớ những người gặp nạn. Rong rêu đã mọc đầy trên chiếc lô cốt - được gọi là Ðồn Nhất - do thực dân Pháp xây dựng vào năm 1826 để bảo vệ con đèo chiến lược này. Nó bền bỉ bám trên sườn núi hàng chục năm nay và từ đây có thể kiểm soát được suốt dọc con đèo từ cả hai phía. Ðồn Nhất đã chứng kiến biết bao cuộc nổi dậy của nhân dân Việt Nam trong suốt thời kì đấu tranh chống thực dân Pháp đô hộ. Sau đó lô cốt này được chuyển sang tay quân Mỹ và quân đội nhân dân Việt Nam đã có lần sử dụng thành lũy này để nã pháo vào Ðà Nẵng.

dinh deo hai van


Con đường bắt đầu xuống dốc, xuôi về thành phố Huế. Nhìn từ trên cao, con đường trông như sợi chỉ chạy ngoằn ngèo với rất nhiều khúc ngoặt gây cho ta cảm giác con đường kéo dài vô tận. Nhưng chỉ đến khi bạn bắt đầu mất hy vọng thì ô tô lượn quanh khúc ngoặt cuối cùng và một phong cảnh hết sức ngoạn mục hiện ra trước mắt bạn: bãi biển và làng chài Lăng Cô.


Cho dù là chặng nghỉ chân giữa chừng hay là điểm cuối cùng của chuyến đi, Lăng Cô là địa chỉ tuyệt vời của chuyến vượt đèo Hải Vân. Từ đây trở đi, trên những con đường đồng bằng, bạn có thể thoải mái ngắm nhìn những cánh đồng lúa bát ngát cùng những làng quê thanh bình dọc trên hai con đường dẫn tới thành phố Huế.

Điểm du lịch 30-4: Bãi biển Lăng Cô

Vịnh biển Lăng Cô cách thành phố Đà Nẵng hơn 25km về phía Bắc, là điểm dừng chân đầu tiên khi đến Huế, hệt một lời chào duyên dáng của thành phố mộng mơ...
  Lăng Cô thơ mộng với những cồn cát trắng, nước biển trong xanh, hòa với màu xanh của núi rừng. Vịnh biển này là thành viên thứ 30 của Câu lạc bộ “Các vịnh biển đẹp nhất thế giới” vào năm 2009. 

 Bãi biển Lăng Cô trong xanh, nằm thoai thoải, kéo dài khoảng 10km, thuộc thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế, sát quốc lộ 1A, gần đèo Hải Vân.
Biển Lăng Cô   Ảnh: Phuketemagazine
Đến Lăng Cô bằng cách phóng xe máy, nghe gió biển phả từng cơn trên cung đường khúc khuỷu vượt đèo Hải Vân được nhiều khách du lịch ưa mạo hiểm lựa chọn. Dù hầm đèo Hải Vân hoàn thành từ lâu, an toàn, nhanh chóng nhưng dường như không đủ sức quyến rũ những tâm hồn ưa khám phá. Bởi đi “phượt”qua đường đèo Hải Vân có thể ngắm những cảnh đẹp ngoạn mục, hùng vĩ, và đặc biệt là chiêm ngưỡng vịnh Lăng Cô thơ mộng từ trên đèo cao lộng gió.
Những cảm nhận đầu tiên về Lăng Cô đến từ hai cánh mũi, xộc thẳng vào mũi sự thanh khiết của những cơn gió biển. Tới đây ai cũng căng ngực hít thật sâu, thật tham lam bầu không khí lành trong, giũ sạch những  ồn ào, bụi bặm phố thị.
Sau những cung đường đèo Hải Vân uốn lượn đến rợn tóc gáy, Lăng Cô “ mở òa” trong tầm mắt với màu biển xanh lơ, bãi cát vàng thoai thoải, những mái nhà ngói đỏ nổi bần bật giữa làn sương mỏng manh của vịnh biển gần ban trưa, thuyền câu nhấp nhô, và tiếng sóng vỗ vách đá chưa bao giờ mạnh mẽ, quyến rũ như thế.
Du khách dừng chân ghi lại những khoảnh khắc nơi vịnh biển. Ảnh: Khánh Ly.
Chịu ảnh hưởng của bão một ngày đầu tháng 10, Lăng Cô vẫn hoang dã, phóng khoáng và xinh đẹp như một bài thơ... Vịnh biển nằm ngay vị trí đắc địa là eo biển miền Trung, có phải vì thế mà nó cũng sở hữu những đường cong tuyệt mỹ nhất? Đường cong mềm mại của dải cát ven biển dập dờn theo từng con sóng khiến những ánh mắt từ Hải Vân quan không thể rời.
Đường tàu hỏa uốn lượn ôm lấy eo biển cộng với đường đèo và dải cát dưới vịnh tạo nên những đường cong kỳ thú. Nhìn ngắm những toa tàu đang rầm rập chuyển bánh qua đây, nhẫn nại ôm lấy khúc quanh chân đèo mới cảm hết được nét đẹp hài hòa giữa tự nhiên và những yếu tố thuộc về con người. Lăng Cô hoang sơ, dấu ấn hiện diện của con người ở đây chưa quá dữ dội để phá đi thế cân bằng và nên thơ mà thiên nhiên ban tặng. Và chừng nào những ống khói nhà máy, những khu resort chưa giành thế áp đảo thì Lăng Cô vẫn là nàng thơ khiến du khách không ngừng say đắm.
Có ai đó đã nói đường cong quyến rũ nhất là đường cong của nụ cười rạng ngời. Đặt chân tới vùng đất ven biển này để thấy nụ cười Lăng Cô, tươi rói và mặn nồng mùi biển. Người dân chài lưới sống mộc mạc theo những con sóng, xa những náo nhiệt của thị thành, hiếu khách thì miễn bàn. Lang thang cả buổi chạy theo những cảnh đẹp, vị biển mặn làm ta thèm da diết một cốc nước chè. Biết tìm ngụm nước mát ở đâu giữa bốn bề mênh mông sóng biển nếu không từ tấm lòng một mệ người Huế đang đan lưới và móm mém: “Bây đi mô rứa? Vô đây mà uống nước chè”. Bát nước chè ngọt lịm như giọng xứ Huế, hương vị cứ theo ta mãi. Những “đường cong” Lăng Cô mê hoặc ta một, những nụ cười Lăng Cô quyến rũ ta tới mười là vậy.
  Nằm lọt thỏm giữa một nhánh rẽ của dãy Trường Sơn đâm ra biển, một đầu là đèo Hải Vân, đầu kia là đèo Phú Gia, Lăng Cô sở hữu dãy cồn cát tuyệt đẹp dưới những tán cây xanh mướt bốn mùa. Đến Lăng Cô vào mùa nào cũng sẽ có những điều hấp dẫn riêng. Mùa hè, Lăng Cô là thiên đường tránh nắng, bầu không khí dịu mát nhờ biển xua tan cái nắng rát, tưởng chừng những giọt nước li ti hòa lẫn vào không gian, dễ chịu vô cùng. Trong lúc cả dải miền Trung đang chịu trận bởi “chảo lửa” bỏng rát thì khí hậu Lăng Cô ôn hòa ở mức 25-26 độ. Vào những ngày cuối thu, Lăng Cô đắm chìm trong làn sương mờ ảo, khiến du khách choáng ngợp, tưởng chừng không dám thở mạnh, cứ ngỡ chỉ một hơi thở sẽ làm tan biến mất làn sương mỏng manh như khói đang bao phủ. Chiều chiều, từng đàn cò trắng kéo nhau bay rợp trời về vùng đầm Lập An tìm chỗ ngủ tạo nên một phác thảo mang đậm phong cách thủy mặc.

Gần đây, sẵn địa thế nằm gần khu du lịch sinh thái vườn quốc gia Bạch Mã, Lăng Cô đã trở thành một điểm đến đầy thu hút khi kết hợp được không gian còn hoang sơ của rừng núi và với nhịp sống nhộn nhịp của vùng biển nhiều tàu thuyền qua lại. Nếp sống dân chài ở đây là sức hút tự nhiên đối với du khách ưa khám phá nét sinh hoạt dân địa phương.
Phần đông du khách đến với Lăng Cô đều khoái các thú vui như câu cá, lặn biển và leo núi, xuyên rừng. Cảm giác hòa mình vào thiên nhiên và cuộc sống dân chài, kết hợp các hoạt động  tay chân, leo núi, bơi, khám phá núi rừng hùng vĩ… không gì sảng khoái bằng! Thị trấn nhỏ và yên bình này mang lại cho du khách thời gian thư giãn tuyệt vời và nhiều trò chơi gắn liền với biển. Ngoài ra, du khách có thể tận hưởng những món ăn hải sản quý và đến thăm một số cảnh đẹp như Chân Mây, làng chài Lăng Cô gần bãi biển.
Lăng Cô vốn là một làng chài do vậy dân cư đầm phá này sinh sống chủ yếu bằng nghề bắt cá, nuôi trồng hải sản và  dịch vụ du lịch. Với đặc thù đầm phá giữa nước lợ và nước mặn dễ nuôi các loài hải sản như tôm hùm, tôm sú, tôm bạc, tôm he, tôm vằn, tôm đất, cua, sò huyết, hàu… Đặc biệt hàu ở Lăng Cô có vị ngọt mặn đậm đà xen chút vị beo béo rất riêng. Hàu như một sản vật mà thiên nhiên hào phóng ban tặng cho làng chài ven vịnh Lăng Cô từ bao đời. Du khách từ phương xa đến đây được thưởng thức thịt heo luộc chấm các loại mắm tôm chua, mắm sò huyết, kèm theo rau thơm đủ loại “thơm ngon đến miếng cuối cùng”. Những du khách sành ăn nhất cũng phải đồng ý ăn hải sản ở Lăng Cô thì “đúng điệu” phải biết.
Đến Lăng Cô một lần để biết cảm giác choáng ngợp trước thiên nhiên, cảnh đẹp khiến ta đứng chôn chân, không muốn rời bước. Sẽ là một may mắn nếu chiêm ngưỡng hoàng hôn về trên vịnh biển. Cảm giác thả lỏng đến từng tế bào nhỏ, còn đôi mắt bị một lực hút vô hình từ bức tranh thủy mặc Lăng Cô cuốn lấy. Nắng nhường chỗ và bóng tối lấn tới, chỉ còn vài tia nắng còn mải mê rong chơi, tô điểm chút hồng cho làn nước biển. Cảnh sắc đẹp khiến ngôn từ và mọi lời ngợi khen trở nên bất lực. Và tích tắc đó như lời nhắc nhở ta đang thực sự sống, bởi có lẽ “cuộc sống không đo bằng hơi thở mà đo bằng những nơi chốn và khoảnh khắc làm ta nín thở” như thế!

Điểm du lịch 30-4: Ca Huế

Ca Huế là một thể loại âm nhạc cổ truyền của xứ Huế, Việt Nam, bao gồm ca và đàn, ở nhiều phương diện khá gần gũi với hát ả đào.

Lịch sử

Nếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền phát tán thành một dòng dân gian chuyên nghiệp là hát Ả đào và vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh, thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là ca Huế (gồm cả ca và đàn). Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là một lối hát Ả đào của người Huế, một lối chơi của các ông hoàng bà chúa xét trên quan điểm tiếp biến trong tiến trình của một lối hát truyền thống và tiến trình lịch sử từ Thăng Long đến Phú Xuân-Huế.

Đặc điểm

Ca Huế mang sắc thái địa phương rõ nét bởi nó gắn chặt với đặc điểm ngữ âm ngữ điệu của giọng nói xứ Huế, hoặc nói một cách khác mang tính hệ quả là do mối quan hệ gắn bó với nền âm nhạc dân gian - dân ca xứ Huế. Đây là một đặc điểm trong tiến trình phát triển của Ca Huế và cũng là một đặc điểm của nền âm nhạc cổ truyền xứ Huế; nơi mà hai thành phần âm nhạc: chuyên nghiệp bác học (nhã nhạc Cung đình, ca Huế), thành phần dân gian (dân ca: hò, lý...) thường xuyên tác động qua lại, gắn bó, thâm nhập, thúc đẩy lẫn nhau với hiện tượng dân gian hóa ở âm nhạc bác học và bác học hóa ở âm nhạc dân gian xảy ra liên tục trong quá trình phát triển.
Dù Ca Huế mang rõ nét tính chất đặc thù địa phương nhưng nó đã không chỉ bó hẹp trong một xứ Huế. Ngoài yếu tố đặc thù và một số đặc điểm vốn có của mọi thể loại nhạc cổ truyền thì nghệ thuật Ca Huế vẫn là khởi nguyên từ văn hóa nghệ thuật cội nguồn Thăng Long, hội tụ từ truyền thống văn hóa âm nhạc dân tộc. Vì vậy trong giai đoạn thịnh đạt đã lan tỏa trở lại với cội nguồn, thâm nhập và trở thành một thành phần tương hợp trong hầu hết dân ca vùng Trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Chẳng hạn: hơi Huế, giọng Lý, giọng Kinh ở khối giọng Vặt, giọng Ngoại trong hát Quan họ, hát Xoan, hát Ghẹo, hát Chèo v.v. Hướng phát triển về phía Nam của Ca Huế thì rõ ràng đã sản sinh ra lối nhạc tài tử như nhà nghiên cứu Giáo sư Trần Văn Khê nhận xét: "lối "nhạc tài tử" trong Nam là con đẻ của lối "ca Huế" miền Trung".
Nói là Ca Huế gắn với ngữ âm của giọng nói Xứ Huế, mà giọng Huế thì không chuẩn như Hà Nội trong vấn đề xử lý các dấu giọng, nên với đặc tính "cạn và hẹp" giọng nói Huế đã để lại dấu vết trong đường nét giai điệu Ca Huế một tính chất đặc hữu, khác với dân ca nhạc cổ từ đèo Ngang trở ra và từ Hải Vân trở vào. Tuy vậy một số nhà nghiên cứu còn căn cứ vào sự giao thoa ảnh hưởng của các truyền thống văn hóa khác trong lịch sử văn hóa Việt Nam cho rằng: điệu Nam trong ca Huế do ảnh hưởng nhạc Chăm mà có. Đến nay vấn đề này vẫn đang bỏ ngõ vì thiếu chứng liệu.

Lịch sử nghiên cứu

Từ năm 1956 trong bài Việc sưu tầm nghiên cứu của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, nhạc sĩ Văn Cao đã rất e dè với vấn đề ảnh hưởng của nhạc Chàm trong ca Huế mà Nguyễn Hữu Ba đã đặt ra: "Tôi không biết được anh đã có những thí dụ gì chứng minh, nhưng tôi biết rằng phần thắc mắc này của anh còn đợi có phương tiện đầy đủ mới giải quyết được". Thái Văn Kiểm trong bài Ảnh hưởng Chiêm Thành trong ca nhạc Huế lại nhận xét một cách chắc chắn là điệu Nam trong ca Huế đã "phỏng theo các ca khúc của Chiêm Thành mà đặt ra". Tuy nhiên các sự kiện lịch sử mà ông nêu ra làm căn cứ cho nhận xét của mình thì hoàn toàn không liên quan gì đến việc hình thành điệu Nam trong ca Huế. Những sự kiện các vua nhà Lý đi chinh phạt Chiêm quốc mà cụ thể là việc vua Lý Thái Tông năm 1044 đánh vào quốc đô là Phật Thệ bắt cung nữ Chiêm biết múa hát khúc Tây Thiên đưa về kinh (là Kinh Bắc); năm 1202 vua Lý Cao Tông sai nhạc công soạn khúc Chiêm Thành âm... thì cớ gì mà hình thành điệu Nam trong ca Huế ở tận xứ Thuận Hóa mấy trăm năm sau? Nếu cho rằng hát Quan họ, Ca trù và kể cả dân ca khu vực đồng bằng Bắc bộ ảnh hưởng nhạc Chăm vì những sự kiện lịch sử nêu trên thì khả dĩ còn hợp lý hơn, chứ không thể vô lý như tác giả bài viết kết luận: Theo những tài liệu trên, thì "Khúc Tây Thiên" và "Chiêm Thành âm" có lẽ là nguồn gốc các điệu Nam của ca nhạc Huế nay(!). Luận điểm này về sau được một số nhà nghiên cứu tiếp tục nêu lại, như Lê Văn Hảo trong một khảo cứu về ca Huế năm 1978 dù có chung chung hơn: "ảnh hưởng của nhạc Champa và nhạc Ấn Độ thể hiện trong các điệu Nam của ca nhạc Huế ".
GS. Trần Văn Khê xếp ca Huế vào loại Quan nhạc để phân biệt với Tục nhạc. Trong bài viết Lối "ca Huế" và lối "nhạc Tài tử" ông đã căn cứ vào sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ để giả định tổ tiên của lối ca Huế: Trong các loại nhạc triều đình, có lẽ lối Cung trung nhạc - hay là Cung trung chi nhạc - là gần với lối đàn Huế nhất. Để nêu ra giả thiết này GS. Trần Văn Khê đã dựa vào việc "ông quan nội điện cung phụng quản tiên hữu đội" là Nguyễn Đình Địch đời Cảnh Hưng nhà Lê "học nhạc Trung Hoa rồi biến đổi ra theo tiếng Nam... và ông Vũ Chỉ Đồng trước học điệu tàu rồi gảy ra tiếng ta và xen theo các bài đàn đáy, đàn nguyệt của ta...bụng nghĩ thế nào tay gảy được thế". Hiện nay Cung trung nhạc thời Nguyễn, là thời đại gần ta nhất nhưng bài bản như thế nào các nhà Nhã nhạc học vẫn tỏ ra lúng túng. Còn thời Lê, cái nhạc của ông quan nội điện cung phụng quản tiên hữu đội đó chắc gì đã là nhạc của Cung trung chi nhạc. Nhưng nếu Cung trung chi nhạc thời Lê đồng nghĩa với lối Hát cửa quyền thì chắc đó là lối hát Ả đào thính phòng trong cung phủ mà Phạm Đình Hổ chép trong sách Vũ trung tùy bút: "Hát ở trong cung, tục gọi là hát cửa quyền, tiếng hát xinh xắn uốn éo dịu dàng, thanh nhã hơn giọng hát ngoài chốn giáo phường. Nhưng âm luật cũng không khác gì mấy". Như thế, theo quan điểm chúng tôi trình bày ở đầu bài viết này: Ca Huế có thể gọi là một lối hát Ả đào của người Huế vậy.
Cũng trong bài viết này G.S Trần Văn Khê đã trình bày sự biến chuyển của ca đàn Huế từ thế kỷ 20 so với ngoài Bắc và trong Nam. Ông cho rằng truyền thống cổ nhạc ở Huế được gìn giữ kỹ hơn, ít biến chuyển trước làn sóng của âm nhạc Âu-Tây. Trong khi ở ngoài Bắc hội Khai Trí Tiến Đức chủ trương "dùng khí cụ và chút ít phương pháp của Âu Tây để hòa những bản đàn cổ" hoặc "bài đàn như trước viết lại cho đúng phương pháp Âu-Tây". Ở trong Nam có nhạc sĩ Trần Quang Quờn đặt bài bản mới phỏng theo cung điệu xưa, sáng chế nhạc khí mới và đặt ra cach chép nhạc riêng; phong trào cải lương làm cho đờn ca tài tử phát triển mạnh theo hướng sân khấu; dùng đàn Tây như mandoline, guitare và violon để đờn Vọng cổ v.v. Ở Huế thì tồn cổ một cách cực đoan, đại diện có ông Hoàng Yến cực lực chống lại việc canh tân nhạc cổ; quan niệm điệu cổ và điệu kim khác nhau xa như trời với đất; điệu cổ êm ái mà trang nghiêm, điệu kim tục tằn và thô lỗ". Tác giả bài viết đã đưa ra chính kiến cho vấn đề này: "Chúng tôi không đồng ý với ông Hoàng Yến về chỗ người nhạc sĩ không có quyền sáng tác bài bản mới. Nhưng tôi đồng ý với nhạc sĩ miền Trung ở chỗ giữ truyền thống. Các lối đờn ngoài Bắc nhứt là trong Nam đều xa căn bản hơn đờn Huế". Có thể đây là do tính cách của người Huế, sự đổi mới thường muộn hơn so với các nơi khác chứ không hoàn toàn tồn cổ kiểu ông Hoàng Yến mà vẫn "ảnh hưởng Âu nhạc phát hiện bằng sự thành lập nhóm Tỳ bà với nhạc sư Nguyễn Hữu Ba".
Bài viết dù kém mạch lạc, ít tập trung và đôi lúc miên man, tản mạn như kiểu kể chuyện nhưng đã có những nhận xét và nêu những sự kiện lịch sử đáng chú ý.
Quan niệm trên của ông Hoàng Yến về điệu cổ và điệu kim là một vấn đề mà Gs Trần Văn Khê đã tiếp tục đề cập trong một bài viết khác: Vài cái hay cái dở trong nhạc Việt. Sau khi nêu vài ý kiến, nhận xét khen, chê đều mang tính chất cực đoan của một số thính giả trong và ngoài nước đối với nhạc cổ Việt Nam, tác giả muốn đánh giá lại một cách khách quan cái hay cái dở trong nhạc Việt cổ truyền (chủ yếu là lối ca đàn Huế và lối nhạc tài tư) với thiện chí "tìm khuyết điểm để bổ cứu, tìm ưu điểm để phát huy". Trong việc khen - chê, hay - dở, nếu đứng trên quan điểm thẩm mỹ của một truyền thống này để nhận xét một truyền thống âm nhạc khác mà mình chưa am tường thường sinh ra những trường hợp kiểu như nhạc sĩ Pháp Hector Berlioz nhận xét nhạc Trung Hoa là giống tiếng "chó ngáp mèo mửa". Trái lại một ông hoàng ở Lahore thì rất sành nhạc Ấn Độ, còn nhạc Âu đối với ông chỉ là "tiếng sói tru giữa sa mạc". Những nhận xét trong bài viết này của Giáo Sư Trần Văn Khê là vào năm 1961 (được đăng trên Tạp chí Bách Khoa năm 1969). Ở thời điểm này ông đã được tiếp xúc tương đối nhiều với các nền âm nhạc cổ truyền trên thế giới, vì vậy so sánh nhạc cổ Việt Nam với các nước khác ông đã nêu lên 4 nhược điểm của lối ca Huế và đàn tài tử như: Bài bản ít lại hay lặp điệu; Cách chép nhạc không khoa học; Phần lý thuyết rất yếu và Nhạc khí thì thô sơ. Đồng thời nêu 3 ưu điểm cần được phát huy là: Rao hay dạo; Nhấn và Cách hòa đờn. Đây là những nhận xét rất tâm huyết của tác giả. Đến nay, càng được tiếp xúc thêm với rất nhiều truyền thống âm nhạc khác nhau trên thế giới, kể cả Việt Nam, có thể GS đã phát hiện ra thêm những nhược điểm, những ưu điểm mới trong lối ca Huế và nhạc tài tử nói riêng và ca nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung.
Dưới hình thức một bức thư gửi cho Trần Văn Khê ở nước ngoài, ông Vĩnh Phan, một nghệ sĩ đàn Huế đã nêu lên Vài ý kiến về các hơi nhạc cổ truyền Huế. Đặc biệt ông cho GS. Trần Văn Khê biết là vừa tìm được một cuốn sach chép tay của một nhạc công trong Ban Tiểu nhạc có ký âm 17 bài bằng chữ Hán. 17 bài này nằm trong hệ thống bài bản của Tiểu nhạc, hiện nay chỉ còn lưu truyền 6 bài. Trong sách Lược sử âm nhạc Việt Nam GS. Nguyễn Thụy Loan có kể tên 17 bài này nhưng có khác với tài liệu của Vĩnh Phan chút ít là không có tên bài Bái Kinh và Bắc xướng Tẩu mã là hai bài khác nhau. Không rõ cuốn sách này hiện nay lưu lạc ở đâu?
Vấn đề chính trong bức thư này vẫn là ý kiến về hơi nhạc cổ truyền Huế. Những luận giải của nghệ sĩ Vĩnh Phan về Ngũ cung và các hơi chủ đích là để phản đối luận điểm của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba cho rằng thang âm Huế là thang bảy bậc đều nhau. Ông đã đưa ra một loạt dẫn chứng rất thuyết phục để xác định các hơi trong nhạc Huế thuộc hệ thống thang năm âm. Đáng chú ý là sự phân tích của ông về hơi thiền (thuyền): " Trong một bài hơi Khách (Bắc) mà có 2 cung Ì, PHÀN thì dĩ nhiên có chuyển hệ; Cũng trong một bài hơi khách mà hai cung XỰ và CỐNG luôn luôn có mặt trong khi dứt câu, hay ở đầu ô nhịp, lúc đánh cho ta cảm giác một âm giai thứ. Hoặc dùng cả Ì, Phàn nữa, hơi đó nhất định là hơi thuyền. Tuy nhiên việc ông gọi Khách (Bắc), Nam, Dựng, Ai và Thiền đều là hơi và chữ hơi này được ông chú là: "Theo tôi, nhạc Huế có nhiều hơi (système)", thì vấn đề còn cần phải xem xét lại. Một điểm nữa không biết nghệ sĩ Vĩnh Phan có cố ép cho người xưa hay không khi nói rằng: " Chỉ cần nhìn lại thang âm từ trước sẽ thấy người xưa đã định cho mỗi cung một tên riêng nhất định như sau:
Xang (Fa 2)
Xê (Sol 2)
Công (La 2)
Phàn (Sib 2)
Họ (Đô 3)
Xự (Ré 3) " v.v.
Người xưa là ai và vào thời nào mà định được mỗi cung một vị trí cao độ của hệ thống hàng âm bình quân như trong nhạc lý châu Âu? Trong Đờn Huế hầu như cũng chưa bao giờ có khái niệm về âm chuẩn.
Một vốn quý trong kho tàng âm nhạc Việt Nam cổ truyền của Lê Văn Hảo là một khảo cứu đầy đặn về ca Huế đăng trên tạp chí từ trước đến nay. Mặc dù không phân thành chương, phần nhưng nội dung trình bày đã tập trung vào hai mảng lớn: Đặc điểm nghệ thuật ca Huế và nguồn gốc, quá trình phát triển. Ông khẳng định "ca nhạc Huế không phải là nhạc cung đình triều Nguyễn nhưng cũng không thuộc loại nhạc dân gian". Với một hệ thống bài bản phong phú, cấu trúc phức tạp nhưng chặt chẽ, hoàn chỉnh; những sắc thái tình cảm tinh tế cùng với những đòi hỏi khá phức tạp đối với ca công về cách hát, đối với nhạc công về kỹ thuật diễn tấu nhạc cụ, nên ca Huế thuộc về phạm trù âm nhạc cổ điển, bác học.
Đặc biệt, dù không phải là nhà nghiên cứu âm nhạc nhưng Lê Văn Hảo đã phân tích khá sâu sắc về vấn đề thang âm, điệu và hơi trong ca Huế. Hơi theo cách ông gọi là sắc thái của điệu: "Ca nhạc Huế có điệu thức Bắc và bốn sắc thái (quen gọi là hơi): hơi quảng, hơi đảo, hơi thiền, hơi nhạc, có điệu thức Nam và bốn sắc thái: hơi xuân, hơi thương, hơi ai, hơi oán. Giữa hai điệu thức Bắc và Nam có một sắc thái trung gian: hơi dựng ". Phát triển nhận xét của Trần Văn Khê về loại thang âm ngũ cung đều Lê Văn Hảo lý giải hiện tượng các cung mạnh thu hút các cung phụ - hay cung yếu và đưa ra nhận xét khá sâu sắc: "Chính hiện tượng các cung mạnh thu hút các cung yếu làm cho một thang âm đều trở thành một thang âm không đều và có ý nghĩa quyết định làm cho sắc thái tình cảm trở nên vui dịu nhẹ, hay buồn, ảo não".
Tuy vậy, có một số vấn đề trong bài khảo cứu cần phải luận bàn thêm. Chẳng hạn: không cần thiết phải gọi là ca nhạc Huế thay cho tên gọi đã trở thành quen thuộc là ca Huế. Ca Huế đã tồn tại trong truyền thống như tên gọi ca Trù (hay là hát Ả đào) là một thể tài chuyên nghiệp luôn đi kèm với nhạc cụ. Ca nhạc Huế không thể không bị hiểu nhầm là toàn bộ nền ca nhạc tại Huế, cả quá khứ lẫn đương thời, cả nhạc cổ truyền (dân ca, ca Huế, ca nhạc cung đình, âm nhạc tín ngưỡng) lẫn tân nhạc (một khối lượng lớn các bài hát mới sáng tác về Huế, sáng tác trên chất liệu âm nhạc Huế). Tại sao lại liệt kê Nhã nhạc, Tiểu nhạc là một thành phần trong thành phần các loại nhạc cung đình với giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc v.v.? Tác giả đã không tiếc lời khi cho ca Huế là quá uyên bác, là điêu luyện, hoàn chỉnh, mẫu mực, là cấu trúc chặt chẽ với tính khoa học cao, và để dẫn đến là: "chẳng khác gì các hình thức đoạn đổi, đoạn điệp, chủ đề và biến tấu như trong nhạc cổ điển phương Tây" ! Một số sơ xuất đáng tiếc trong khi phân tích về thang âm điệu thức, như việc xác định thang âm điệu bắc trong ca Huế là ngũ cung đúng; thang âm điệu nam là thang âm ngũ cung khuyết (thang âm tứ cung với tàn dư tam cung) hoặc là thang âm ngũ cung không đều; các bậc non, già được chú thích là dièse, bémol v.v. Và nhất là tìm cách cố gán ép ca Huế là loại nhạc cổ điển do nhân dân sáng tạo ra, phân trần cho được các nghệ nhân, nghệ sĩ là sinh trưởng trong dân gian nhưng "một số không may bị trưng tập vào các đội ngự nhạc ở cung điện triều đình nhà Nguyễn... bị bọn thống trị ép buộc phục vụ chúng" một cách không cần thiết. Văn hóa Nghệ thuật của giai cấp nào đều không là là sản phẩm trí tuệ của Nhân dân. Khi đã bác học hóa thì trở thành lối chơi của ông hoàng bà chúa, giới quý tộc, khi đã dân gian hóa thì vẫn là sản phẩm trong tổng thể văn hóa dân gian mà thôi. Trong lịch sử văn hóa Huế sự không phân định rạch ròi các thành phần cũng là một đặc điểm. Nói gì thì nói, những người bảo lưu gìn giữ ca Huế cho đến 15, 20 năm trước Cách mạng Tháng 8 như tác giả kể đến thì hầu hết đều là các ông đội (đội trưởng đội ngự nhạc), ông hoàng và các chức sắc dưới triều Nguyễn như: các ông hoàng Nam Sách, Trấn Biên, Lãng Biên, Miên Trinh, các công chúa Ngọc Am, Mai An, Huệ Phố; gia đình ông Tống Văn Đạt với các ông đội Chín, đội Phước. Đội Thức; Các danh cầm, danh ca như Cả Soạn, Thừa Khiêm, Khóa Hài, Ngũ Đại, cậu Tốn Ut, Ưng Biều, Ưng Thông, đội Trác, Trợ Tồn, Bửu Bát v.v. Vấn đề nguồn gốc được tác giả đề cập quá chung. Quá trình phát triển nếu chỉ căn cứ vào những mốc lớn của lịch sử Việt Nam thì không những ca Huế mà các thể loại âm nhạc cổ truyền khác cũng đều bị ảnh hưởng. Tất nhiên, chính vấn đề này Gs Trần Văn Khê cũng đã từng thừa nhận: "chúng tôi chưa gặp một sử liệu nào có thể soi rõ sự chuyển biến của lối đàn Huế qua các thời đại".
Trong bài Sự phong phú và đa dạng của ca nhạc Huế nhà nghiên cứu, nghệ sĩ ca kịch Huế Văn Lang có nêu vấn đề ảnh hưởng của nhạc Chàm đối với hai bài ca Huế: Nam ai và Nam bình. Theo ông, căn cứ vào sự kiện năm 1202 Lý Cao Tông sai soạn khúc Chiêm Thành âm có âm điệu "buồn sâu sắc mà người nghe không thể cầm được nước mắt" cho rằng "bài Nam ai có thể bắt nguồn từ khúc Chiêm Thành âm mà ra. Người nhạc sĩ trước đây đã dựa vào khúc Chiêm Thành âm để đặt ra bài Nam ai, vì trong Nam ai cũng có những âm cao và mang một nỗi buồn ai oán". Điều phỏng đoán này, cũng như ông Thái Văn Kiểm trong bài nêu ở trước, là đều không có chứng lý.
Một vấn đề khác cũng được tác giả bài viết nêu ra là cặp từ Bắc, Nam trong ca nhạc Huế. Ông không hoàn toàn nhất trí với quan điểm điệu Bắc mang ảnh hưởng âm nhạc Trung Hoa, điệu Nam là do ảnh hưởng nhạc Chiêm Thành. Theo ông: " những từ Bắc và Nam ở đây có thể chỉ là thuật ngữ để phân loại các hệ thống điệu thức - nhất là trong lĩnh vực hát dân tộc mà chủ yếu là cải lương và ca Huế".
Nhạc Huế là bài viết mang tính chất tổng lược về âm nhạc cổ truyền xứ Huế. Tuy nhiên không hẳn là kiểu bài giới thiệu mang tính chất "điểm mặt" các thành phần, thể loại, mà Gs Tô Vũ đã đưa ra những nhận định sâu sắc về mặt âm nhạc. Chẳng hạn, ông bổ sung thêm những nghiên cứu trước của Trần Văn Khê, Phạm Duy về thang âm hò Mái đẩy là: "cũng là một loại thang âm rất gần so với chuỗi âm có thể thấy ở một loại kèn trong âm nhạc Chăm". Giáo sư phân định nhạc Huế thành ba thành phần chính yếu: Nhạc Lễ, Dân ca và Ca Huế. Đặc biệt đối với ca Huế, sau khi nhận xét các yếu tố bài bản, khúc thức, bố cục và phong cách trình diễn, ông đã có sự đánh giá sâu sắc: "Như vậy, có thể nói: ca Huế là một thể loại nhạc hát mang nhiều yếu tố chuyên nghiệp về cấu trúc và phong cách biểu diễn, nhưng về nội dung âm nhạc của nó thì bộ phận đặc sắc nhất lại chịu ảnh hưởng rõ rệt của Hò, Lý dân gian..."
Vấn đề giao thoa giữa hai thành phần này đã được Dương Bích Hà phát triển trong bài viết Âm nhạc cổ truyền xứ Huế trong mối quan hệ bác học và dân gian: "Ca Huế mặc dù xuất phát tại cung đình nhưng nguồn gốc lại gắn bó với dân gian. Có thể nói rằng, trong nền âm nhạc cổ truyền Huế thì ca Huế - bộ phận thứ hai của dòng bác học - là nhịp cầu nối giữa cung đình - dân gian".

Điểm du lịch 30-4: Chùa Thiên Mụ- Và Truyền thuyết không cầu duyên

Huế vốn là nơi qui tụ nhiều di tích thắng cảnh, nhiều ngôi chùa cổ kính nổi tiếng của Việt Nam. Nhưng ngôi chùa xưa nhất có lẽ phải kể đến chùa Thiên Mụ- nơi có sự tích ra đời gắn liền với bước chân mở đường của vị chúa Nguyễn đầu tiên xứ Đàng Trong.

Truyền thuyết kể rằng, khi Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa, ông đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn bị cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp, xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau này. 


Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương ngược lên phía đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại. Hỏi ra mới biết, ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê. Người dân địa phương cho biết, nơi đây ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi, nói với mọi người “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước Nam hùng mạnh“. Vì thế, nơi đây còn được gọi là Thiên Mụ Sơn (núi Thiên Mụ). Tư tưởng lớn của chúa Nguyễn Hoàng dường như cùng bắt nhịp được với ý nguyện của dân chúng. Ông cho dựng một ngôi chùa trên đồi, ngoảnh mặt ra sông Hương, đặt tên là “Thiên Mụ Tự“ (chùa Thiên Mụ).
 
Toàn cảnh chùa Thiên Mụ
Trong thực tế, ở đây đã từng tồn tại một ngôi chùa của người Chàm - di tích được nhắc đến trong sách Ô châu cận lục của Dương Văn An vào năm 1553. Nhưng phải đến năm 1601 với quyết định của chúa Nguyễn Hoàng, chùa mới chính thức được xây dựng.
 
Theo đà phát triển và hưng thịnh của Phật giáo xứ Đàng Trong, chùa được xây dựng lại quy mô hơn dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725). Năm 1710, chúa cho đúc một chiếc chuông lớn có khắc một bài minh trên đó. Đến năm 1714, chúa lại cho đại trùng tu chùa với hàng chục công trình kiến trúc hết sức quy mô như điện Thiên Vương, điện Đại Hùng, nhà Thuyết Pháp, lầu Tàng Kinh, phòng Tăng, nhà Thiền... mà nhiều công trình trong số đó ngày nay không còn nữa. Ông còn đích thân viết bài văn bia nói về việc xây dựng các công trình kiến trúc ở đây, ca tụng triết lý của đạo Phật, ghi rõ sự tích Hòa thượng Thạch Liêm - người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn chấn hưng Phật giáo ở Đàng Trong. Bia được đặt trên lưng một con rùa đá rất lớn, trang trí đơn sơ nhưng tuyệt đẹp.

Với quy mô được mở rộng và cảnh đẹp tự nhiên, ngay từ thời đó, chùa Thiên Mụ đã trở thành ngôi chùa đẹp nhất xứ Đàng Trong. Trải qua bao biến cố lịch sử, chùa Thiên Mụ đã từng được dùng làm đàn Tế Đất dưới triều Tây Sơn (khoảng năm 1788), rồi được trùng tu tái thiết nhiều lần dưới triều các vua nhà Nguyễn. Năm 1844, nhân dịp mừng lễ “bát thọ“ (mừng sinh nhật thứ tám mươi) của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (vợ vua Gia Long, bà nội của vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị kiến trúc lại ngôi chùa một cách quy mô hơn: xây thêm tháp Từ Nhân (sau đổi là Phước Duyên), đình Hương Nguyện và dựng 2 tấm bia ghi chép thơ văn của nhà vua.
Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ. Tháp cao 21m, gồm bảy tầng, được xây dựng ở phía trước chùa. Mỗi tầng tháp đều có thờ tượng Phật. Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng, nơi trước đây có thờ tượng Phật bằng vàng. Phía trước tháp là đình Hương Nguyện.
Chùa Thiên Mụ được xếp vào hai mươi thắng cảnh đất Thần Kinh với bài thơ “Thiên Mụ chung thanh” do đích thân vua Thiệu trị sáng tác và được ghi vào bia đá dựng gần cổng chùa. Năm 1862, dưới thời vua Tự Đức, để cầu mong có con nối dõi, nhà vua sợ chữ “Thiên“ phạm đến Trời nên cho đổi từ “Thiên Mụ” thành “Linh Mụ” (Bà mụ linh thiêng). Mãi đến năm 1869, vua mới cho dùng lại tên Thiên Mụ như trước. Bởi vậy trong dân gian, người ta vẫn dùng cả hai tên khi muốn nhắc đến chùa này.

Trận bão khủng khiếp năm 1904 đã tàn phá chùa nặng nề. Nhiều công trình bị hư hỏng, trong đó đình Hương Nguyện bị sụp đổ hoàn toàn. Qua nhiều đợt trùng tu lớn nhỏ, ngoài những công trình kiến trúc như tháp Phước Duyên, điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm... cùng bia đá, chuông đồng, chùa Thiên Mụ ngày nay còn là nơi có nhiều cổ vật quí giá không chỉ về mặt lịch sử mà còn cả về nghệ thuật. Những bức tượng Hộ Pháp, tượng Thập Vương, tượng Phật Di Lặc, tượng Tam Thế Phật... hay những hoành phi, câu đối ở đây đều ghi dấu những thời kỳ lịch sử vàng son của chùa Thiên Mụ.

Trong khuôn viên của chùa là cả một vườn hoa cỏ được chăm sóc vun trồng hàng ngày. Ở đó, hòn non bộ của vị tổ nghề hát tuồng Việt Nam Đào Tấn được đặt gần chiếc xe ô tô - di vật của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức để lại trước khi châm lửa tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963. Cuối khu vườn là khu mộ tháp của cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu, vị trụ trì nổi tiếng của chùa Thiên Mụ, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho những hoạt động ích đạo giúp đời.
Tọa lạc bên bờ sông Hương thơ mộng của miền Trung, chùa Thiên Mụ với kiến trúc cổ kính đã góp phần điểm tô cho bức tranh thiên nhiên nơi đây càng thêm duyên dáng, thi vị. Tiếng chuông chùa như linh hồn của Huế, vang vọng mãi theo dòng nước sông Hương chảy qua trước Kinh Thành, xuôi về cửa biển, đọng lại trong lòng khách phương xa đến Huế một nỗi niềm vương vấn chốn Thiền Kinh.

Truyền thuyết về  Chùa Thiên Mụ: Không Cầu Duyên

Chuyện khó tin bắt nguồn từ mối tình oan nghiệt

Chuyện  về lời nguyền ở ngôi "chùa thiêng" đã truyền từ hàng nghìn năm đến bây giờ vẫn còn là điều bí ẩn không có lời đáp. Đó là nếu trai gái yêu nhau mà lên chùa này sẽ bị chìa lìa, không đến được với nhau. Để tìm hiểu thực hư câu chuyện huyền bí này, chúng tôi đến thăm chùa khi bắt đầu trời tờ mờ sáng, khách hành hương về đất Phật mới lác đác dăm ba người.
Anh bạn đồng hành chia sẻ: "Bản thân mình cũng có nghe đồn, những đôi tình nhân nếu dắt nhau lên chùa thì về nhà sẽ chia tay ngay. Mới lúc đầu mình cũng thấy không tin, nhưng khi chứng kiến đôi yêu nhau cùng xóm trọ, trong dịp 30/4 năm ngoái dẫn nhau  lên chùa chơi, đúng thật về có hơn tháng đôi này gây chuyện rồi chia tay". Bạn Nguyễn Tuấn Điệp SV trường ĐH Y Dược - Huế chia sẻ: "Em quê ở Phú Lộc hồi còn học phổ thông cũng có nghe bố mẹ kể về chùa Thiên Mụ là chốn linh thiêng. Chuyện trai gái yêu nhau mà dắt lên đây tâm sự, tình tứ sẽ bị Phật làm cho chia tay. Đây là ngôi chùa tâm linh nhất ở Huế".

Tuyền thuyết kể rằng, khi chúa Nguyễn Hoàng vào làm trấn xứ Thuận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam, ông đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm mở mang cơ  nghiệp, xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau này. Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương ngược lên đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như một con rồng đang quay đầu nhìn lại, ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê. Người dân địa phương cho biết, nơi đây ban đêm thường có một bà lão mặc áo màu đỏ đen, quần lục xuất hiện trên đỉnh đồi và nói với mọi người: "Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước hùng mạnh". Vì thế, nơi đây còn được gọi là Thiên Mụ Sơn.

Chùa Thiên Mụ còn gắn với một câu chuyện tình đầy bi thương vẫn lưu truyền cho đến bây giờ. Không chỉ người dân cố đô mà dân những vùng lân cận cũng thường lấy đó để lý giải nguyên do tại sao những đôi yêu nhau thường không dắt nhau tới đây tâm sự hay cầu nguyện. Chuyện kể rằng, thời Nguyễn có một đôi trai gái yêu nhau rất nồng thắm đã "thề non hẹn biển". Cô gái đó là con nhà danh giá quý tộc, còn chàng trai lại là mồ côi, đói rách, nghèo khổ. Gia đình nhà gái ngăn cấm không cho họ lấy nhau. Uất ức, và để chứng mình cho tình yêu, họ đã ra dòng sông Hương tự vẫn để được mãi mãi bên nhau. Nhưng trớ trêu thay, chỉ có chàng trai chết còn cô gái thì dạt vào bờ và được người dân cứu sống. Thời gian trôi qua cô gái kết duyên với một chàng trai khác, oan hồn chàng trai nằm dưới sông Hương hận cho số phận của mình, đã "nhập" vào chùa Thiên Mụ nguyền cho bất cứ đôi tình nhân nào đến đây cầu duyên, cũng  sẽ bị chia đường đôi ngả.
Dòng sông Hương nơi gắn với câu chuyện huyền thoại về mối tình bi thương.

Điểm du lịch 30-4: Núi Ngự Bình

Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hoá, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của Huế. Từ lâu, ngọn núi xinh đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đã trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Vì vậy, người ta quen gọi Huế là xứ sở của sông Hương và núi Ngự.
Huế nổi tiếng không chỉ vì là nơi tập trung những đền đài lăng tẩm của các vua triều Nguyễn, nơi có những ngôi chùa, nhà thờ, đền đài nổi danh, nơi có những con người với danh xưng “người Huế trầm mặc”, mà Huế còn nổi tiếng vì có một thiên nhiên tươi đẹp. 
Đến Huế, cái cảm giác đầu tiên mà ta bắt gặp chính là đang bước vào một nơi tĩnh lặng, hiền hoà. Trước mắt du khách không phải đối diện với những ngọn núi cao hùng vĩ, chót vót, cũng không phải đối diện với những con sông dài rộng mênh mông sóng cuộn tung bờ mà là một cảnh quan rất thấp, rất nhẹ, rất êm, rất xinh và ngay cả du khách cũng sẽ tiếp xúc với một giọng nói cũng rất “ngang”. Tất cả đó là cảnh quan Huế mà nổi bật lên trên chính là sông Hương và núi Ngự. Con sông và ngọn núi biểu tượng của Huế. Đúng thế, như nhà thơ Bùi Giáng trả lời cho một ai đó hỏi về cảm tưởng của ông về Huế, ông chỉ cười và đáp:
“Dạ thưa xứ Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”
Câu thơ lục bát rất đơn sơ, rất ca dao nhưng cũng “rất Huế”. Đừng ai hỏi Huế là gì? Huế là thế nào? Xin thưa “Huế là Huế” là “Hương Bình”.
Kinh qua bao nhiêu đổi thay, qua “bao lớp sống phế hưng”, Huế vẫn tồn tại với sông Hương và núi Ngự, với bao nhiêu nét đẹp đã đi vào thơ ca, đi vào lòng người.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì núi Ngự Bình có tên gọi là Bằng Sơn hay Bình Sơn, một ngọn núi không cao hình dáng giống cái bình phong, hai bên có hai núi đất là Tả Phù Sơn và Hữu Bật Sơn. Từ khi dời phủ về làng Phú Xuân và xây dựng chính dinh ở đây, chúa Nguyễn Phúc Thái tục gọi là chúa Ngãi, lấy Bằng Sơn làm tiền án ở mặt chính nam nên đổi tên là Ngự Bình Sơn. Từ đó về sau Ngự Bình Sơn là một trong những ngọn núi rất quan trọng trong việc xây dựng kinh thành Huế của các vua nhà Nguyễn. Ngay từ thời Nguyễn Huệ còn làm Bắc Bình Vương, khi nghe quân Thanh kéo 20 vạn quân sang xâm lấn nước ta, Nguyễn Huệ đã lập đàn tế cáo trời đất trên ngọn Hữu Bật Sơn, lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung và tiến quân ra Bắc. Xem thế thì Ngự Bình là một ngọn núi rất quan trọng.
Ngày xưa từ chân núi lên đến đỉnh núi các vua chúa cho trồng thông, quanh năm xanh tốt. “Thông reo núi Ngự” chính là vì thế. Nhìn ngọn Ngự Bình cùng hai ngọn Tả Phù - Hữu Bật trông giống như con phượng hoàng đang xoè cánh che chở cho đế thành. Đây ngày xưa cũng là nơi dập dìu tới lui của các cặp tài tử giai nhân vào những tiết tốt như thanh minh, nguyên tiêu, trùng cửu. Đứng trên đỉnh Ngự, lắng nghe tiếng thông reo có thể thu vào tầm mắt toàn cảnh kinh thành Huế ẩn hiện những lâu đài thành quách, mái chùa cổ kính giữa một màu xanh của cây cối và sông Hương như giải lụa uốn lượn quanh co.
Ngay trước tầm mắt là các khu đồi, là rừng thông bát ngát tiếp đến một vùng đồng bằng rộng lớn của các huyện: Hương Thủy, Phú Vang, Hương Trà cỏ cây xanh rờn..., xa hơn là dãy Trường Sơn trùng điệp một màu tím thẫm ẩn hiện sau những tầng mây bạc. Nhìn về phía đông, là những dải cát trắng mờ phía xa cửa Thuận An với màu xanh thăm thẳm của Biển Đông. Núi không cao, không cheo leo gập ghềnh nhưng núi Ngự mang cái dáng vẻ của một con người trầm tư mặc tưởng, thanh thoát lâng lâng hồn người.
Cái đẹp của núi Ngự không phải là về mặt phong thủy che chở cho kinh thành Huế, cái đẹp của núi Ngự chính là chỗ nó gần gũi với dân Huế, nó trở thành một cái đài, một ngôi lầu cao vút và lên đó theo những bậc cấp nhân tạo người ta có thể phóng tầm mắt mình chiêm ngưỡng vẻ đẹp dịu hiền của thành Huế, lắng nghe những tiếng vọng từ bên dưới rất xa, và có cảm tưởng như mình đang ở vào một thế giới nào đó, thoát tục.
Đông qua, xuân lại, thời gian biến chuyển đổi thay, đã gần hơn nửa thế kỷ nay, cây cối trên núi hầu như không còn. Những năm gần đây, núi Ngự đã được sống lại. Từ xa du khách có thể thấy được các cụm thông trên núi, tuy chưa lớn lắm nhưng cũng đã phủ xanh được ngọn núi này, những ngày lộng gió, đứng dưới chân núi ta lại bắt đầu nghe điệu nhạc thông réo rắt. Và mấy năm trở lại đây, một nét văn hoá cố đô rất đáng hoan nghênh là vào những ngày đẹp trời, vào dịp Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, trùng cửu, từng đoàn trai thanh gái lịch đã về đây, tiếp bước người xưa lên núi hái lộc, ca xướng ngâm vịnh. Cái sinh khí đã trở lại hứa hẹn cho Huế một tương lai sán lạn.
Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hoá, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của Huế. Từ lâu, ngọn núi xinh đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đã trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Vì vậy, người ta quen gọi Huế là xứ sở của sông Hương - núi Ngự.

Điểm du lịch 30-4: Sông Hương

Sổ tay du lịch_sổ tay_du lịch_so tay du lich_so tay_du lich_sotaydulich_sotay_dulich_dọc miền đất nước_doc mien dat nuoc_ve voi hue thuong_song huong
Những ngôi miếu thờ bên dòng sông
Sông Hương – dòng sông gắn liền với Huế, trải qua bao biến thiên, thăng trầm cùng thời gian, dòng sông của lịch sử, dòng sông của thơ ca, dòng sông đã đi vào tâm thức của những con đất Huế như là dòng sông của Vua Chúa…Hãy cùng trải nghiệm cảm giác bồng bềnh trên dòng Hương để khám phá một Huế khác, trầm lặng hơn, giản dị hơn…
Như một quy luật từ xa xưa, con người và các dòng sông luôn song hành với nhau, nơi nào có sông, nơi đó con người sinh sống và phát triển, nhiều nền văn minh đã ra đời gắn liền với những dòng sông chẵng hạn nền văn minh Trung Hoa gắn liền với con sông Hoàng Hà và Trường Giang, Ai Cập gắn liền với sông Nile, Ấn Độ với Sống Ấn và sông Hằng…hay ở nước Việt ta thì có Cổ Loa với con sông Hoàng Long, Thăng long với sông Hồng… và Huế là dòng Hương.

Sổ tay du lịch_sổ tay_du lịch_so tay du lich_so tay_du lich_sotaydulich_sotay_dulich_dọc miền đất nước_doc mien dat nuoc_ve voi hue thuong_song huong
Thượng nguồn sông Hương với cầu Tuần vừa được hoàn thành

Sổ tay du lịch_sổ tay_du lịch_so tay du lich_so tay_du lich_sotaydulich_sotay_dulich_dọc miền đất nước_doc mien dat nuoc_ve voi hue thuong_song huong
Đồi Ngọc Trản với điện Hòn Chén
Tuy không quá dài như những dòng sông ở trên, tổng chiều dài nếu tính cả nguồn dài nhất thì sông Hương chỉ dài khoảng 100km, thượng lưu của dòng sông là hai nguồn Tả trạch có chiều dài khoảng 67km, bắt nguồn từ dãy trường Sơn Đông, chảy qua khu vườn quốc gia Bạch Mã với 55 ngọn thác, dòng này chảy ngang qua thị trấn Nam Đông sau đó hợp lưu với dòng Hữu Trạch ở ngã ba Bằng Lãng, dòng Hữu Trạch cũng bắt nguồn từ dãy Trường Sơn nhưng từ phía Nam và chảy ngược về phía Bắc với chiều dài 60km. Bắt đầu từ đây dòng Hương đã trở nên rộng hơn, đổ ra cửa biển Thuận An với chiều dài 33km, nước chảy chậm do độ dốc thấp.
Sổ tay du lịch_sổ tay_du lịch_so tay du lich_so tay_du lich_sotaydulich_sotay_dulich_dọc miền đất nước_doc mien dat nuoc_ve voi hue thuong_song huong
Hoàng hôn trên đồi Vọng Cảnh

Sổ tay du lịch_sổ tay_du lịch_so tay du lich_so tay_du lich_sotaydulich_sotay_dulich_dọc miền đất nước_doc mien dat nuoc_ve voi hue thuong_song huong
Thấp thoáng những con đò lẻ loi
Trước khi xuôi theo hạ nguồn để khám phá một Huế nên thơ thì chúng ta cũng nên tìm hiểu xem vì sao dòng sông có tên sông “Hương”. Theo các tài liệu cổ trong lịch sử thì dòng sông mang nhiều tên khác nhau, như trong “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi sông có tên là sông Linh…sau đó lại được mang tên Lô Dung, Yên Lục…và theo truyền thuyết sở dĩ có tên là sông Hương là do sông chảy qua những cánhrừng nguyên sinh bạt ngàn với hàng trăm loài hoa, cây gỗ mang mùi thơm nhẹ nhàng, vì thế mà nhân dân gọi là sông Hương.
Sổ tay du lịch_sổ tay_du lịch_so tay du lich_so tay_du lich_sotaydulich_sotay_dulich_dọc miền đất nước_doc mien dat nuoc_ve voi hue thuong_song huong
Những dãi rừng xanh ngắt bên bờ sông
Từ ngã ba Bằng Lãng, dòng sông trôi chầm chậm qua những thằng cảnh của Huế, qua điện Hòn Chén, qua đồi Vọng Cảnh, qua Võ Miếu, Văn Miếu, qua chùa Thiên Mụ… rồi qua kinh thành Huế. Mỗi lần đi qua một nơi nó lại làm cho nơi đó trở nên trầm mặc, cổ kính, nên thơ hơn, mềm mại hơn…
Sổ tay du lịch_sổ tay_du lịch_so tay du lich_so tay_du lich_sotaydulich_sotay_dulich_dọc miền đất nước_doc mien dat nuoc_ve voi hue thuong_song huong
Văn Thánh miếu
Dòng sông mềm mại uốn quanh, như ôm trọn kinh thành, khi chọn đất đóng đô, vua Gia Long đã khéo lẹo lựa chọn dòng sông làm minh đường với hai cái cồn Hến và Giả viên làm tả Thanh Long và hữu Bạch Hổ, ông đã cho nắn hai dòng phụ lưu là Kim Long và Bạch Yến thành hộ thành hà cho kinh thành.
Sổ tay du lịch_sổ tay_du lịch_so tay du lich_so tay_du lich_sotaydulich_sotay_dulich_dọc miền đất nước_doc mien dat nuoc_ve voi hue thuong_song huong
Linh thiêng Thiên Mụ Tự
Một điều khác biệt so với các kinh đô khác của Việt Nam ở chỗ, dòng Hương chính là nguồn mạch tâm linh, một con đường nối giữa hai thế giới của những vị Vua đang tại vị với các Tiên đế đã băng hà, hầu như các khu lăng mô của các vua đầu triều đều nằm ở thương nguồn Hương giang. Không kể những làng mạc xòm làng, những ngôi nhà vườn, những vườn cây ăn trái xanh mướt…
Sổ tay du lịch_sổ tay_du lịch_so tay du lich_so tay_du lich_sotaydulich_sotay_dulich_dọc miền đất nước_doc mien dat nuoc_ve voi hue thuong_song huong
Bến Phu Văn Lâu
Vào các dịp đầu xuân ngày xưa, dòng sông trở thành nơi cho một cuộc biểu diễn đầy màu sắc và trang nghiêm của những chiếc Long thuyền, Phượng thuyền của hoàng gia trên bến Phu Văn lâu. Vua cùng cả hoàng gia ngự trên những con thuyền lộng lẫy ấy xuôi dòng sông để đến với các lăng Tiên đế cũng như đến với ngôi quốc tự Thiên Mụ trên đồi hà khê, hay điện Hòn Chén…và cũng chính dòng sông là ranh giới giữa hai chế độ trong thời gian Pháp xâm lược nước ta: bờ bắc dòng sông là kinh thành uy nghi cổ kính thể hiển uy quyền của Nam Triều, bờ Nam là tòa khâm sứ khiêm tốn nhưng lại đè bẹp cái kinh thành kia, rồi dòng sông cũng là nơi chứng kiến bao cảnh binh đao, bao biến đổi, màu cờ trên Kỳ đài thay đổi bao phen…
Sổ tay du lịch_sổ tay_du lịch_so tay du lich_so tay_du lich_sotaydulich_sotay_dulich_dọc miền đất nước_doc mien dat nuoc_ve voi hue thuong_song huong
Kỳ đài sừng sững uy nghi
Trải qua thời gian, thăng trằm cùng lịch sử, có những công trình đã mất cùng thời gian, những con người chỉ còn trong quá khứ, ngay cả một triều đại cũng tàn lụi thì dòng Hương vẫn ở đó, vẫn hàng ngày làm xanh thêm cho Huế, một dải lụa mềm vắt ngang thành phố Huế, còn biết bao điều phải nói về dòng sông một thời huy hoàng cùng Vương triều Nguyễn này,  hẹn các bạn lại kỳ sau!
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2013. Chia sẻ kinh nghiệm du lịch - All Rights Reserved
Share by Download Templates
Proudly powered by Blogger