Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng

Tin lễ 30-4: Hồ Hoàn Kiếm(Hà Nội)

Hồ Hoàn Kiếm còn được gọi là Hồ Gươm (trong bản đồ Hà Nội năm 1886, hồ này được gọi là Hồ Hoàn Gươm - Lac de Hoan Guom), là một hồ nước ngọt tự nhiên của thành phố Hà Nội. Hồ có diện tích khoảng 12 ha. Trước kia, hồ còn có các tên gọi là hồ Lục Thủy (vì nước có màu xanh quanh năm), hồ Thủy Quân (dùng để duyệt thủy binh), hồ Tả Vọng và Hữu Vọng (trong thời Lê mạt). 


Tên gọi Hoàn Kiếm xuất hiện vào đầu thế kỷ 15 gắn với truyền thuyết vua Lê Thái Tổ trả gươm báu cho Rùa thần. Tên hồ được lấy để đặt cho một quận trung tâm của Hà Nội (quận Hoàn Kiếm) và là hồ nước duy nhất của quận này cho đến ngày nay.

Vị trí



Hồ Hoàn Kiếm có vị trí kết nối giữa khu phố cổ gồm các phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Cầu Gỗ, Lương Văn Can, Lò Sũ... với khu phố Tây do người Pháp quy hoạch cách đây hơn một thế kỷ là Bảo Khánh, Nhà Thờ, Tràng Thi, Hàng Bài, Đinh Tiên Hoàng, Tràng Tiền, Hàng Khay, Bà Triệu.

Lịch sử

Cách đây khoảng 6 thế kỷ, dựa theo bản đồ thời Hồng Đức thì phần lớn xung quanh kinh thành khi ấy là nước. Hồ Hoàn Kiếm là một phân lưu sông Hồng chảy qua vị trí của các phố ngày nay như Hàng Đào, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Hàng Chuối. Tiếp đó đổ ra nhánh chính của sông Hồng . Nơi rộng nhất phân lưu này hình thành nên hồ Hoàn Kiếm hiện nay.
Thời Lê Trung hưng (thế kỷ 16), khi chúa Trịnh cho chỉnh trang Hoàng thành Thăng Long để vua Lê ở đã đồng thời xây dựng phủ chúa riêng nằm ngay bên ngoài Hoàng thành và trở thành một cơ quan trung ương thời bấy giờ với những công trình kiến trúc xa hoa như lầu Ngũ Long (dùng để duyệt quân) nằm ở bờ Đông hồ Hoàn Kiếm, đình Tả Vọng trên đảo Ngọc Sơn . Năm 1728 Trịnh Giang cho đào hầm ở vị trí phía Nam hồ để xây dựng cung điện ngầm gọi là Thưởng Trì cung .
Chúa Trịnh cho ngăn hồ lớn thành hồ Tả Vọng và Hữu Vọng. Hồ Hữu Vọng được dùng làm nơi duyệt quân thuỷ chiến của triều đình. Đến đời Tự Đức (1847-1883), hồ Hữu Vọng được gọi là hồ Thủy Quân, còn hồ Tả Vọng chính là hồ Hoàn Kiếm. Từ năm 1884, nhà nước bảo hộ Pháp cho lấp hồ Thuỷ Quân để xây dựng, mở mang Hà Nội .

Truyền thuyết

Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi có chép:

Khi ấy Nhà vua cùng người ở trại Mục sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ), nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:
- Sắt nào đây?
Thận nói:
- Đêm trước quăng chài bắt được.
Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ "Thuận Thiên", cùng chữ "Lợi".Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:
- Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!
Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh. Tới hôm sau, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra. 
Truyền thuyết này được đưa vào nội dung sách giáo khoa của Việt Nam và được viết tiếp đoạn sau, nói về việc Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, cuối cùng đuổi được quân Minh, lên làm vua.
Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Tả Vọng. Nhận lệnh Long Quân, rùa nổi lên mặt nước.
Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Đứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm bên người tự nhiên động đậy.
Rùa tiến về thuyền vua và nói
- Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!
Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước.
Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm 

Di tích liên quan

  • Tháp Rùa: nằm ở trung tâm hồ, được xây dựng trong khoảng từ giữa năm 1884 đến tháng 4 năm 1886, trên gò Rùa và chịu ảnh hưởng kiến trúc Pháp [13]. Tháp hình chữ nhật. Tầng một: chiều dài 6,28 mét (của 2 mặt hướng Đông và Tây), mỗi mặt có 3 cửa. Chiều rộng 4,54 mét, mỗi mặt có 2 cửa. Các cửa đều được xây cuốn, đỉnh thuôn nhọn. Tầng hai: chiều dài 4,8 mét, rộng 3,64 mét và có kiến trúc giống như tầng một. Tầng ba: chiều dài 2,97 mét, rộng 1,9 mét. Tầng này chỉ mở một cửa hình tròn ở mặt phía Đông, đường kính 0,68 mét, phía trên cửa có 3 chữ Quy Sơn tháp (tháp Núi Rùa). Tầng đỉnh có nét giống một vọng lâu, vuông vức, mỗi bề 2 mét.
  • Đảo Ngọc Sơn: nằm ở phía Bắc hồ, xưa có tên là Tượng Nhĩ (tai voi). Vua Lý Thái Tổ đặt tên là Ngọc Tượng khi dời đô ra Thăng Long và đến đời Trần thì đảo được đổi tên là Ngọc Sơn. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra đền Ngọc Sơn trên nền cung Thuỵ Khánh cũ (bị Lê Chiêu Thống cho người đốt năm 1787 để trả thù các chúa Trịnh). Đền Ngọc Sơn thờ thầnVăn Xương là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo.
  • Cầu Thê Húc: dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, do danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cho xây dựng vào năm 1865. Tên của cầu có nghĩa là "nơi đậu ánh sáng Mặt Trời buổi sáng sớm"
  • Tháp Bút: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ năm 1865, bao gồm năm tầng. Trên đỉnh là tượng trưng cho một ngòi bút đối lên trời, phần thân có khắc ba chữ Tả Thanh Thiên (viết lên trời xanh), thân tầng thứ ba của tháp có khắc một bài Bút Tháp Chí.
  • Đài Nghiên: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ năm 1865, là phần không thể thiếu của Tháp bút. Ba chân kê nghiên là hình tượng ba con cóc. Trên thân nghiên khắc một bài Minh, gồm 64 chữ Hán.
  • Tháp Hoà Phong: trên bờ hướng Đông hồ, là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân (bị dỡ bỏ năm 1898) . Tháp cao ba tầng, cửa theo bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, có các chữ Hán như: Báo Đức môn, Báo Ân môn, Hoà Phong tháp, Báo Thiên tháp, ứng với mỗi cửa của tháp. Tầng một to và cao hơn hai tầng trên cùng. Bốn mặt của tầng hai hình Bát quái. Tầng ba ghi "Hòa Phong Tháp".
  • Đền Bà Kiệu: trên bờ hướng Đông Bắc hồ, được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng, là một di tích hoàn chỉnh nhưng do việc mở đường nên đã tách làm hai phần, Tam quan ở sát bờ hồ, còn Đền thờ ở về phía bên này đường. Toạ lạc theo hướng Nam. Tam quan và Đền thờ (Nhà đại bái) đều có kiến trúc ba gian xây gạch, lợp mái ngói ta. Ngôi đền thờ ba vị nữ thần là Liễu Hạnh công chúa, Đệ nhị Ngọc nữ và Đệ tam Ngọc Nữ.
  • Nhà Thuỷ Tạ: trên mặt bờ hồ hướng Tây Bắc, là một loại hình kiến trúc quan trọng và đặc sắc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam, là địa điểm diễn ra các lễ của Hoàng triều hoặc thờ cúng Thần linh hay các vị Hoàng đế. Ngoài ra, Nhà Thuy Tạ còn là chốn phục vụ nhu cầu ăn chơi cho tầng lớp thống trị, hậu cung, ly cung, biệt cung... có kiến trúc tương đối đơn giản, được xây dựng bên bờ mặt nước như hồ, ao, sông, suối.
  • Đền thờ vua Lê: ở bờ Tây hồ, áp với đình Nam Hương. Đền có tượng vua Lê Thái Tổ đứng trên trụ cao, tay cầm thanh kiếm như phóng xuống mặt hồ.

Hệ sinh vật hồ

Rùa
Rùa hồ Gươm có tên khoa học là Rafetus leloii, họ Ba Ba (Trionychidae) trong bộ Rùa (Testudies), lớp Sauropsida (Mặtthằn lằn). Rùa hồ Gươm gồm có bốn cá thể, trong đó một cá thể còn sống trong hồ và ba cá thể đã chết (một được lưu trong đền Ngọc Sơn, một lưu trong kho của Bảo tàng Hà Nội và một đã bị giết thịt năm 1962 - 1963 khi bò lên vườn hoa Chí Linh).
Là loài rùa lớn sinh sống trong Hồ Gươm. Ngày trước rùa Hồ Gươm rất hiếm khi nổi lên mặt nước. Truyền rằng mỗi lần rùa nổi đều liên quan đến những việc quốc gia đại sự.
Là di sản vô giá gắn với những truyền thuyết lịch sử và văn hoá linh thiêng từ hàng ngàn năm nay, hiện rùa hồ Gươm thuộc diện động vật quý hiếm đang được nhà nước bảo vệ.
Năm 2011, rùa hồ Gươm, được biết chỉ còn một cá thể sống sót, thường được gọi là "Cụ Rùa" đã được trục vớt và trị chữa các vết thương.

Cảm hứng nghệ thuật

Tuy không phải là hồ lớn nhất trong thủ đô, song hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khuphố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp.
Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là biểu tượng khát khao hòa bình (trả gươm cầm bút), đức văn tài võ trị của dân tộc (thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Gươm làm nền tảng cho các tác phẩm của mình.
Hồ cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà nhiếp ảnh, trong đó nổi tiếng nhất là lão nghệ sĩ Võ An Ninh

Thơ văn

Nguyễn Khuyến xưa có bài thơ vịnh Hà Thành và Hồ Gươm biến dạng cách đây 100 năm như sau:
Cảm-đề
Ba chục năm nay trở lại hồ
Bây giờ cảnh-sắc khác ngày xưa
Nhà tranh đâu cả, toàn lầu gác
Súng lạ đì-đòm tịt trúc tơ
Chim-chóc đi về lầm lối cũ
Cốc cò chiều tối ngủ sương mưa
Đáng thương văn-vật trăm năm ấy
Còn lại bên hồ một đá trơ!
Nguyễn Khuyến
Hà Nội
...
Hà Nội có Hồ Gươm
Nước xanh như pha mực
Bên hồ ngọn Tháp Bút
Viết thơ lên trời cao
Trần Đăng Khoa - 1969
Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Đài nghiên, tháp bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Á Nam Trần Tuấn Khải
Nghiên Bút Non Sông(Nhạc và lời: Đình Dương) Hãy viết lên trời cao hỡi Tháp bút kiêu hùng Kiêu hãnh ơi Việt Nam anh dũng kiên cường Khí phách đó Hồ Gươm xanh thắm đến muôn đời Chiến tích xưa còn ghi thanh kiếm vẫn sáng ngời...

Âm nhạc

Hà Nội niềm tin và hy vọng
(Nhạc và lời: Phan Nhân)
Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời
Càng toả ngát hương thơm hoa thủ đô
Đường lộng gió thênh thang năm cửa ô
Nghe tiếng cười không quên niềm thương đau...
Theo wikipedia

Tour liên quan:

Tour du lịch lễ 30-4: Hà Nội- Tràng An- Bái Đính-Hạ Long-Yên Tử(4 ngày 3 đêm)

Tin lễ 30-4: Chùa Trấn Quốc (Hồ Tây -Hà Nội)

Chùa tọa lạc phía Nam hồ Tây, đường Thanh Niên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) giới thiệu chùa nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý Nam Đế (541-547) tại thôn Yên Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). 

Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa được tiếp tục trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1637 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1824, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc từ đời Vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.,Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. 





Chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, nằm cạnh Hồ Tây, ở cuối đường Thanh Niên, quận Ba Đình, Hà Nội. Chùa được xây từ thời Lý Nam Đế (541-547) ở gần sông Hồng, đến năm 1615, được dời vào vị trí ngày nay. Chùa có vườn tháp cổ u tịch, có nhiều tượng Phật giá trị, đặc biệt là tượng Thích Ca nhập Niết Bàn. Chùa là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), thì chùa Trấn Quốc nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639,chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời Vua Lê Hy Tông đã đễợc nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.
Ta hoài niệm cùng vườn tháp nhấp nhô cao thấp, nhỏ to lời vang vọng giữa hư vô, nghe rõ tiếng ngọn chua me, cỏ ấu đang phập phồng hơi thở dưới chân tháp đầy hơi ẩm sương hồ, nghe lao xao trong gió tiếng mõ cầu kinh đang luận bàn Sắc Sắc Không Không. Ra phía trước sân chùa, thả tầm nhìn vào mênh mông sóng biếc, ta đứng dưới gốc bồ đề nguyên sinh ra từ Tây Trúc, được Tổng thống ấn Độ mang đến đây cho cây bén rễ, mang theo mầu Thiền. Mỗi chiếc lá đề có hình tim, cuống nhỏ nên mỏng mảnh, chỉ phơ phất gió đã rung rinh rào rạt.
Cũng giống như hầu hết những ngôi chùa khác trên đất nước Việt, chùa Trấn Quốc có nhiều lớp, có nhà bái đường, nhiều tượng Phật từ thấp đến cao, từ to đến nhỏ, vàng son lấp lánh, hương khói quanh năm... Đặc biệt có pho tượng Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thếp vàng lộng lẫy.
Chùa còn có 14 tấm bia, trong đó có bia của Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính, tiến sĩ Phạm Quý Thích dựng năm 1639 và 1015...
Chùa Trấn Quốc nằm trên bán đảo phía đông của Hồ Tây, nên thuộc đất làng Yên Phụ, nơi có ngôi đình thờ thánh. Vào mùa xuân hằng năm dân làng tổ chức đám rước từ đình sang chùa rồi từ chùa về làng bằng cả một đoàn thuyền nối nhau cờ reo trống thúc tưng bừng.
Người vào chùa Trấn Quốc, ngoài việc thành tâm lễ Phật còn là để có một chút ngao du ngắn, được thăm một danh lam nổi lên thanh bình giữa phố phường ồn ào, tất bật. Tịch mịch ngay giữa lòng thành phố, cái đáng quý còn đáng được bình phương lên nữa.
Chiều Trấn Quốc. Trời bình lặng. Hồ như một lão tăng chân tu, ngồi thiền trong hoàng hôn, lắng nghe câu kệ giữa bốn bề mây nước, dù phế hưng vẫn rộn rã những nẻo nào...
Hà Nội vẫn may mắn còn rất nhiều chùa chiền đền miếu. Nào Kim Liên, Một Cột, Liên Phái, Quán Sứ, Thái Cam... Nào đền Quán Thánh, Bích Câu đạo quán, nào đền Bạch Mã, đền Lý Quốc Sư...
Riêng Trấn Quốc vẫn thuộc loại chùa cổ nhất, như đã đắc đạo trên đường tu luyện mà mặt nước Hồ Tây đầy huyền thoại làm chứng quả. Chùa không nhiều bậc đá rêu phong, hay núi non trùng điệp, nhưng thật yên bình cùng sóng nước ngân nga, vẫn có thể cho hồn ta giọt nước cành dương, rửa đi một phần thế tục, để làm Lành làm Thiện với nhân gian... 

Tin 30-4: Hồ Tây (Hà Nội)

Hồ Tây xưa có rất nhiều tên : Hồ Xác Cáo , Hồ Lãng Bạc, Hồ Kim Ngưu, Hồ Dâm Đàm, từ thế kỷ thứ 18 chính thức được goị tên là Hồ Tây cho đến ngày nay.
 Hồ Tây: huyền thoại và thực tế.
Hồ Tây xưa có rất nhiều tên : Hồ Xác Cáo , Hồ Lãng Bạc, Hồ Kim Ngưu, Hồ Dâm Đàm, từ thế kỷ thứ 18 chính thức được goị tên là Hồ Tây cho đến ngày nay.




Theo các tài liệu cổ thì Hồ Tây là một phần rớt lại của sông Hồng sau khi đã đổi dòng, lúc vua Lý Thái Tổ lập kinh đô Thăng Long, con đê ngăn cách Hồ Tây và sông Hồng Chưa có, thuyền lớn đi từ sông Hồng vào Hồ Tây có thể qua 3 lối: Qua cửa sông Tô Lịch, gần phố Chợ Gạo rồi lên vùng Long Đỗ, cuôí phố Thuỵ Khuê ngày nay, ở đó sông Tô có nhánh rẽ sang hồ ở làng Hồ Khẩu ( cửa hồ ) ngay gần chợ Bưởi, phần sông chính vẫn đi tiếp sang phía Tây Nam thành Đại La . Nếu noí sông Hồng là Đại Long mạch của Thăng Long, thì sông Tô Lịch là Long mạch chính mang nước sông Hồng đi xuyên qua kinh thành Thăng Long từ Đông sang Tây, thu hút thuyền buôn trong nước, ngoài nước ra vào và đã để lại nhiều bài thơ trữ tình rất đẹp của Thăng Long xưa:
“Sông Tô nước chảy trong ngần
Con thuyền buồm trắng lúc gần, lúc xa”






Cửa sông thứ hai nôí vơí Hồ Tây là cửa sông Bãi Sậy tức Hồ Trúc Bạch, nối  thông vơí Bến Đông Bộ Đầu, từ phố Hàng Than đi lên phố Yên Ninh ngày nay. Xưa kia sông Hồng chưa có bãi bồi lớn, có một nhánh sông rộng đi vào sát bên hồ, sau khi có con đê Yên Phụ xây đè lên bãi bồi, mơí tách nhánh sông ra trở thành hồ Nghiã Dũng, tức bãi Nghiã Dũng hôm nay.

Cửa thứ ba áp sát vơí Hồ Tây hơn, chính là nhánh sông Hồng còn sót lại và đã chứng kiến trận vỡ đê năm xưa, nay còn dấu tích là Hồ Bụng Cá, nằm giưã đê Âu Cơ và con đê quai chật hẹp nay được goị là đường Xuân Diệu, thuộc phường Qủang An và phường Tứ Liên quận Tây Hồ.

Một ngàn năm trước không rõ vua Lý Thái Tổ đã qua cửa sông nào để vào Hồ Tây, nhưng chắc chắn Nhà vua đã vào gần bên Phủ Tây Hồ, Nhà vua mơí nhìn thấy Rồng cuộn sóng bay vút lên trời cao, sách phong thuỷ goị hiện tượng đó là Long quyển thuỷ và tên Thăng Long mơí được Nhà vua lưạ chọn để đặt cho kinh đô. Cũng tại vị trí này, Nhà vua nhìn sang phía Tây, thấy thấp thoáng đỉnh nuí Ba Vì, nên cụm từ “đắc Long bàn Hổ cứ chi thế”và “tiện giang sơn hướng bôí chi nghi” được xuất hiện trong Thiên Đô Chiếu của người. Bơỉ vậy, noí đến Hồ Tây là noí đến nơi khai sinh ra bản Thiên Đô Chiếu bất hủ.
Tương truyền 200 năm trước vua Lý Thái Tổ, Cao Biền đã rất quan tâm đến huyệt đạo này, ông ta đã cố công trù yểm để tận diệt hiền tài của đất Việt, nhưng ông ta đã không yểm được. Năm mươi tư năm trước đây, vào ngày 11/9/1955 cũng có một âm mưu yểm huyệt tại đây. Hôm đó là một chiều thu nắng đẹp, khi kẻ phá hoại vừa bắt đầu hành động thì Long quyển thuỷ lại nổi lên, cướp đi 4 sinh mạng người, chặn đứng hành động phá hoại đó. Đến nay những người cao tuổỉ sống ở Hà Nội và quanh Hồ Tây vẫn nhắc đến Cơn lốc Hồ Tây thoắt hiện thoắt biến năm đó và không quên nhắc con cháu giữ gìn huyệt đạo linh thiêng này.

Từ hàng ngàn năm qua, dân ta đã lập Đền thơ Đức Uy Linh Lang ở ba nơi quanh Hồ Tây là Đền Thủ Lệ, Đình Yên Phụ và Đình Nhật Tân để bảo vệ vùng hồ mênh mông này. Uy Linh Lang là một vị Thiên Thánh trong Thăng Long Tứ Chấn, Đền thờ Người được bố trí theo thế chân vạc thể hiện sự linh thiêng và trọng yểu của Hồ Tây đôí vơí Thủ đô ta và đất nước ta.

Cảnh sắc quanh hồ Tây vốn rất đẹp và thơ mộng, suốt từ thời Lý -Trần đến hết thời vua Lê- chuá Trịnh, Hồ Tây luôn là “Danh thắng đệ nhất kinh kỳ”, đây không chỉ là nơi giành cho vua chuá và cung tần mỹ nữ đến thưởng ngoạn, nghỉ ngơi, đây còn có rất nhiều phường hội thủ công danh tiếng, tạo nên niềm tự hào của Thăng Long xưa. Do vậy, Hồ Tây được coi là một phần quan trọng như một trung tâm của Kinh đô. Ngay từ thời Lý, Hoàng thành nơi Vua ở và Triều đình làm việc thì ở phiá Nam Hồ Tây, nhưng nơi quân lính đồn trú để bảo vệ kinh đô không ở sát bên Hoàng thành mà lùi lên dải đất liền phía bắc Hồ Tây, được goị là Phường Nhật Chiêu.

“Phường Nhật Chiêu”- một đơn vị hành chính được lập ra để khẳng định rằng đây là một phần của Khinh thành Thăng Long . “Phường Nhật Chiêu” không chỉ là nơi quân lính đồn trú thơì bình, mà trong thơì chiến lại là nơi dân chúng gánh lương thực đi tiếp tế cho binh lính xuất quân ra đi đánh giặc và là nơi đoàn quân ca khúc khải hoàn trở về được nhân dân đón tiếp và tổ chức lễ khao quân. Trong trận chiến đấu chống quân Nguyên Mông lần thứ 2 năm 1284 , vùng đất này đã được Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương chọn làm nơi lập đại bản doanh chỉ huy chiến đấu, tổ chức duyệt binh và đọc hịch tướng sĩ trước 20 vạn quân trên hàng ngàn chiến thuyền và thực sự đã tạo nên một bão táp Thăng Long .  
                                    
 Hồ Tây thời nay vànhững điều cảnh báo.


Suốt trong thời kỳ người Pháp chiếm đóng, Hồ Tây chỉ là một khu thắng cảnh ở ngoại ô, đẹp thì có đẹp, tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương có làm xao xuyến lòng người, nhưng chỉ là nơi dành cho du khách đến ngắm cảnh, thưởng hoa, làm thơ và tưởng nhớ tơí các nữ nhân hào kiệt kể từ Công chúa Từ Hoa lập đến bà Huyện Thanh Quan ở làng Nghi Tàm, hay bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương và cô bán chiếu gon Nguyễn Thị Lộ trong môí tình lãng mạn nhưng bi thương vơí Nguyễn Trãi. Ngoài ra còn nhiều nam danh nhân rất nổi tiếng như Trạng Quỳnh, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến…đều từng trân trọng và nặng nợ vơí Hồ Tây… Nhưng suốt 80 năm đô hộ, các làng nghề ven hồ vơí gần 20 ngôi đình, chuà, đền, miếu từng ghi lại bao sự tích ngàn năm kia vẫn chỉ là các làng ngoại ô, phục vụ cho trò tiêu khiển của người qua kẻ lại, mà không mảy may được quan tâm.  

Sau Cách mạng tháng 8, nhất là sau khi Chính phủ về tiếp quản Thủ đô năm 1954, tuy nhà nước ta đã chính thức chọn Hà Nôị là Thủ đô, nhưng làng hoa xung quanh Hồ Tây vẫn chưa được đưa vào tầm ngắm của các nhà hoạch định chiến lược phát triển Thủ đô

Năm 1960 đường Cổ Ngư được thay bằng đường Thanh niên là nhờ công sức lao động của thanh niên học sinh và sinh viên Hà Nôị. Cùng thời đó là Khu biệt thự Tây Hồ được đặc cách xây dựng giành riêng cho cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước đến làm việc và nghỉ dưỡng. Nhưng do quy hoạch thiếu đồng bộ, thiết kế quá xấu và chất lượng xây dựng rất kém, nên đã không đáng được goị là Khu biệt thự và đã xuống cấp rất nhanh.

Đáng buồn thay là bộ mặt Tây Hồ từ  “thời mở cửa”, có thể noí Hồ Tây rộng 500ha vơí đường chu vi dài 17Km chưa bao giờ có quy hoạch, mà chỉ có phong trào tự xây ồ ạt xô bồ và cơ quan quản lý quy hoạch thành phố đã cho ra các bản vẽ chạy theo dân để hợp pháp hoá sự xô bồ đó và “dân đã đi trước, Nhà nước theo sau” nên kinh phí đền bù lớn hơn kinh phí xây dựng và ở góc nào quanh Tây Hồ cũng là sự dở dang, hỗn độn.

Toàn bộ làng xã nằm trong đường bao 17Km kể trên là các làng hoa và nghề thủ công nổi tiếng, sau hơn 20 năm các làng đã trở thành “ phố làng”, ở đây biệt thự, nhà hàng, khách sạn tự do mọc lên. Hiện đã có hơn 500 ngôi biệt thự cho gia đình người nước ngoài thuê, họ thích thuê nhà ở đây, họ cụm lại sống trong một “làng Tây”. Nhiều gia đình nông dân nay trở thành tầng lớp quý tộc mơí. Nhưng, làng vẫn là làng và văn hoá làng xã ngày càng mâu thuẫn sâu sắc giưã nề nếp truyền thống xưa vơí lối sống “nhàn cư vi bất thiện” của những người có “giầu” nhưng không có “sang”.

Hồ Tây xưa mênh mông và huyền bí bao nhiêu thì các dự án xây dựng cao tầng đã phá tan hết cảnh sắc mênh mông và sức hấp dẫn đầy huyền thoại của Hồ Tây bấy nhiêu. Hình như nơi đây đang có một cuộc tranh chấp ngầm giưã xự cố gắng níu kéo và tôn trọng di sản văn hoá truyền thống của Hồ Tây xưa và những người tự cho là thức thời, cấp tiến, biết tận dụng lợi thế để kiếm ra nhiều tiền.
Năm 1998, dự án Thuỷ Cung Thăng Long xử dụng 21ha đất quý ở bán đảo Tây Hồ, định xây toà thuỷ cung bê tông cao 40m ở sát bên Phủ Tây Hồ, đe dọa đến huyệt đạo quốc gia, đã được hai Phó Thủ tướng ký quyết định phê duyệt và quyết định cấp 21 ha đất, nhưng đến đầu năm 1999 đã bị Thủ tướng Phan Văn Khải ra quyết định thu hồi hai quyết định trên. Cuộc đấu tranh đó dai dẳng hơn một năm. Gần đây được biết lại sắp có một dự án nhà hát Thăng Long thế chỗ. Rất mong dự án đó được đưa ra thảo luận công khai để tránh những động chạm về sau. Cũng như tháng 6 năm 2008, dự án Đường hầm bộ xuyên qua Hồ Tây vơí nhiều tính toán về buôn bán bất động sản, đã được trình lên UBND thành phố Hà Nôị, nhưng đã bị dư luận phản đối dữ dội và đã bị dẹp lại sau một tuần báo chí lên tiếng .

Hiện nay đang có một dự án lớn khiến dư luận đang rất quan tâm : Đó là dự án Trung Tâm đô thị Tây Hồ Tây rộng 210,43ha, đầu tư 100% vốn Hàn Quốc và mang phong cách Hàn Quốc . Dự án đã được UBND Hà Nôị phê duyệt và công bố ngày 4/4/2008, đang được xúc tiến thực hiện xây dựng kỹ thuật hạ tầng để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Về nguyên tắc, để tránh quy hoạch manh mún, xô bồ, các dự án có quy mô lớn được thực hiện đồng bộ triệt để từ cơ sở hạ tầng là một điều rất nên. Nhưng ở Hồ Tây linh thiêng này, các việc không chỉ đơn giản như vậy.

1- Trên trục toạ độ và bản đồ địa hình, thì vị trí của trục chính khu đô thị này trùng với đường trục ngang vĩ tuyến 21 độ 3 phút 30’’ từ Phủ Tây Hồ, vượt 25 km đến Đền Thượng trên đỉnh Ba Vì. Theotrục phong thuỷ tựa nuí nhìn sông , thì Hồ Tây là một đại minh đường hình bán nguyệt, vùng đất 210ha này nhìn ra Hồ Tây, rôì nôí sang huyệt đạo quốc gia bên Đầm Trị, Đền Kim Ngưu và Phủ Tây Hồ có khoảng cách chỉ hơn 1000m. Ở đó đã và sẽ còn Long quyển thuỷ. Điều đó cho thấy đây là một cuộc đất quan trọng cho các nhà chỉ huy chiến lược quốc gia. Vậy ở đây cần xây dựng trụ sở cơ quan đầu não của Nhà Nước, chứ không nên giành cho một trung tâm tài chính, ngân hàng, khách sạn cao cấp và biệt thự của người nước ngoài cho người nước ngoài sử dụng như nôị dung dự án?.  
      
       
   2- Mặt khác, trở lại vơí bản Thiên Đô Chiếu mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trích đọc trong báo cáo mở rộng địa giơí hành chính thủ đô trước Quốc hôị chiều ngày 29/5/2008, thì ngoài :“Tiện thế đất tựa nuí nhìn sông” còn rất cần phải hiểu sâu sắc và gìn giữ “Đắc Long bàn hổ cứ chi thế - tức thế rồng cuộn hổ chầu” chính là thế nuí sông và hồ nước quấn quýt vơí nhau. Có lẽ vưà qua do chưa hiểu hết ý nghiã của đoạn Chiếu này, nên trong các dự án mở khu đô thị sang phiá Tây, không có một dự án nào mở kênh đào , hệ thống hồ nước, nôí liền vơí Hồ Tây, rôì từ đó đến các con sông như sông Tô Lịch, sông Nhuệ, sông Đáy…bơỉ vậy Thế Hổ phục thì vẫn còn đó, nhưng Thế Rồng cuộn thì coi như đã mất .

Hổ là núi, là gò , Long là sông, là nước. Vùng đất trung tâm Tây Hồ Tây thuộc phường Xuân La này là nơi duy nhầt còn có ruộng vườn tiếp cận vơí hồ, là nơi duy nhất có thế phục hôì dòng long mạch đang bị triệt phá. Cửa cống Liên Mạc cạnh Chuà Vẽ là cửa sông Nhuệ nôí vơí sông Hồng và là một địa chỉ quan trọng để đầu tư tu sửa. Từ Xuân La nôí sang sông Nhuệ chỉ chừng 5Km và đến sông Tô Lịch chỉ chừng 1Km.
    
Trong phạm vi bài viết này không tiện noí nhiều. Tác giả kính mong quý độc giả hãy nghĩ đến hai chữ LONG MẠCH để tỉnh ngộ khi chưa quá muộn . Nếu Long mạch bị triệt, rồng vĩnh viễn bị chặt ra nhiều khúc thì điều gì sẽ xẩy ra? Trận ngập lụt năm ngoái, trận ngập lụt năm nay và nhiều trận ngập lụt sau này sẽ còn đe doạ tiền của và tính mạng nhân dân ta.

Nhưng tiền của mơí chỉ là một vế . Long mạch Hồ Tây bị triệt, huyệt đạo quốc gia bị triệt thì đầu óc sẽ u tôí và tai hại sẽ khôn lường .  

Tour liên Quan


Tour du lịch lễ 30-4: Hà Nội- Tràng An- Bái Đính-Hạ Long-Yên Tử(4 ngày 3 đêm)

Tin 30-4: Làng Gốm Bát Tràng(Hà Nội)

Làng gốm Bát Tràng, thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Xã có hai thôn đều là thôn truyền thống, thôn Giang Cao và thôn Bát Tràng. Toàn xã chỉ có 164,3ha đất, trong đó 43ha đất thổ cư. 753 hộ gia đình làng Bát Tràng cư trú trên diện tích hẹp 18ha. Có 5,3 ha đất thổ cư thuộc diện làng cổ Bát Tràng.
Nơi mà làng và nghề gắn với nhau suốt gần ngàn năm lịch sử. Ngoài nghề gốm, ngoài đất thổ cư, làng Bát Tràng không có nghề nào khác và không có bất kỳ diện tích đất nào khác. Làng Bát Tràng là làng một nghề: gốm Bát Tràng.
Gốm Bát Tràng là tên gọi kép, phản ánh nghề thủ công: nghề gốm và địa danh, địa chỉ nơi ngành nghề, người thợ thủ công hành nghề đó cư trú: Bát Tràng. Huyện Gia Lâm có nhiều làng nghề thủ công mà tên gọi kép thể hiện những làng có nghề thủ công nổi tiếng: thuốc bắc làng Nành, gốm Bát Tràng, quỳ vàng Kiêu Kỵ.

Làng gốm Bát Tràng đã hình thành, tồn tại, phát triển đến nay đã nhiều trăm lịch sử. Nhưng chưa có một công trình nghiên cứu thật khoa học và đầy đủ nào về làng và nghề gốm. Một điều chắc chắn là nghề gốm có trước làng Bát Tràng. Nghề gốm được tiền nhân người Bát Tràng xưa đưa đến nơi có 72 gò đất trắng -Bạch Thổ Phường, mở lò, lập làng. Tại quê mới, nghề và làng mới gắn với nhau rồi trở thành nổi tiếng: Gốm Bát Tràng.
Theo truyền khẩu từ nhiều thế hệ trước, sau khi nhà Lý thiên đô từ Hoa Lư đến Đại La và đổi tên thành Thăng Long. Được phép vua, thợ thủ công nghề gốm của các làng Vĩnh Ninh Tràng, Bồ Xuyên, Bạch Bát (Thanh Hóa-Ninh Bình) đến Bạch Thổ Phường mở lò, lập làng, sản xuất gốm, gạch cho nhà nước phong kiến. Trải nhiều thế hệ tên Bạch Thổ Phường thành Bát Tràng.





Gia phả nhiều dòng họ ở Bát Tràng còn ghi rõ việc đưa nghề gốm thủ công đến Bạch Thổ Phường. Quá trình chuyển cư từ quê cũ đến quê mới diễn ra trong nhiều thế kỷ, nhiều nhất là vào đời nhà Trần cuối thế kỷ XIV, Lê Sơ và Lê Trung Hưng. Đến lúc này, ở Bát Tràng đã có 20 dòng họ cùng quê cũ, cùng nghề, định cư trên quê mới.
Các công trình kiến trúc của làng như Đình, Đền, Chùa, Văn Chỉ, phản ánh lịch sử làng và lịch sử nghề cùng cuộc chuyển cư từ quê cũ đến Bát Tràng rất rõ: tại Đình làng Bát Tràng nơi còn lưu giữ 44 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam, phong thần cho thành hoàng làng và nhiều câu đối phản ánh cho việc chuyển nghề như:
“Bồ di thủ nghệ khai đình vũ
Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần”.
Nghĩa là đưa nghề từ làng Bồ ra, xây dựng đình, miếu. Lòng dân thành kính tựa hương lan dâng lên cúng tạ thánh thần.
Hay: “Bạch Bát chân truyền nê tác bảo
        Hồng lô đào chú thổ thành kim”
Nghĩa là: nghề gốm được truyền từ Bạch Bát đến, được hun đúc trong lò lửa, đất hóa nên vững.
Một điều đặc biệt là, trong lục vụ thành hoàng được thờ tại đình Bát Tràng có Thượng đẳng thần - Bạch Mã Đại vương - thành hoàng của kinh thành Thăng Long được thờ tại Đền Bạch Mã (Hàng Buồm) là một trong tứ trấn của Thăng Long - Hà Nội.
Theo chính sử tên Bát Tràng xuất hiện đầu tiên trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” - thời kỳ nhà Trần trị vì quốc gia phong kiến Đại Việt. Như vậy, đến thế kỷ XIV tên làng Bát Tràng đã có trong sử sách của nhà nước phong kiến, đồng thời cũng nổi tiếng về nghề làm gốm. Chắc chắn, trước đó phải trải qua thời gian rất dài để tồn tại và phát triển.
“Bạch Thổ Phường” nghĩa là phường đất trắng được tiền nhân người Bát Tràng ngày nay chọn làm nơi mở lò lập làng, sản xuất gạch gốm cho nhà nước. Vì vậy, làng Bát Tràng có lịch sử nghề và lịch sử làng gắn chặt với nhau.
Sản phẩm làng gốm Bát Tràng rất phong phú, đa dạng tuy cùng chất liệu là đất nung, nổi tiếng hơn cả là gạch và gốm.
Gạch Bát Tràng là thương hiệu nổi tiếng trước gốm. Nhiều ca dao của người Việt đã ghi nhận:
“Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng
Vải tơ Nam Định, lụa làng Hà Đông”
Rồi:
“Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây”
Gạch Bát Tràng cùng chiếu Nga Sơn, lụa Vạn Phúc Hà Đông là những nghề và sản phẩm nghề nổi tiếng. Gạch Bát Tràng có kích thước và màu sắc đặc trưng không lẫn với bất cứ loại gạch của một làng nghề nào trong cả nước. Gạch Bát Tràng có màu gan gà, dài 0,30m, rộng 0,30m (0,15m) dày 0,05 - 0,07. Công dụng chính của gạch Bát Tràng là chịu lửa. Gạch được xếp thành hộp chứa sản phẩm gốm cần nung bên trong. Gạch được nung nhiều lần nên khi đưa vào xây dựng tuổi thọ công trình cao và không rêu mốc.
Gạch Bát Tràng còn hiện hữu trong các công trình kiến trúc của hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Đình, Đền, Chùa, Miếu, Hồ, Giếng của các làng xã Việt Nam trong cả nước. Nhiều nhất là tại kinh thành Huế và các lăng tẳm vua nhà Nguyễn.

Vào đầu thế kỷ XIX, khi nhà Nguyễn xây kinh thành Huế từ năm 1805 đến 1832 và 07 lăng tẩm chuẩn bị hậu sự cho các đời vua. Nhà Nguyễn đều huy động dân làng Bát Tràng sản xuất gạch cho các công trình trên. Do có công, vua Tự Đức (1847 - 1883) ban thưởng cho dân làng nghề Bát Tràng bốn chữ đại tự “Hiếu Nghĩa Cấp Công” hiện còn thờ tự tại Đình làng Bát Tràng.
Cùng với gạch Bát Tràng, đồ gốm Bát Tràng cũng nổi tiếng trong cả nước và quốc tế. Gốm bát Tràng có nhiều kiểu dáng, chủng loại, kích thước, phân loại theo chức năng như sau: đồ thờ cúng có lư hương, chân đèn, chân nến, phù hương, nậm rượu, chóe…Đồ gia dụng có bát, đĩa, ấm chén, vò, lọ, chậu…Gốm Bát Tràng được sản xuất bằng tay trên bàn xoay thủ công, kiểu be trạch do đó xương gốm dày. Sau này với kỹ thuật in trên khuôn gỗ và đổ dót vào khuôn thạch cao. Với dòng men cổ như men lam, nâu, rạn đặc trưng cùng các họa tiết trang trí như: hoa, lá, dây, chim muông phù hợp với từng loại sản phẩm. Dòng gốm cổ Bát Tràng được lưu giữ và trưng bày tại nhiều bảo tàng trong nước và quốc tế, được giới chơi đồ cổ sưu tập, sở hữu và rất có giá trên thị trường.
Từ sản xuất thủ công gốm sứ truyền thống, nhiều thế hệ nghệ nhân thợ giỏi được vinh danh. Thời Đông Dương thuộc Pháp có 05 cụ được phong danh hiệu “Nghệ nhân Đông Dương”. Thời kinh tế kế hoạch tập trung của nhà nước, Hà Nội phong tặng 03 nghệ nhân ngành gốm người làng Bát Tràng. Kể từ ngày đổi mới, kinh tế nhiều thành phần, Hà Nội phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân Hà Nội” cho 08 thợ gốm Bát Tràng. Hiệp hội làng nghề Việt Nam cũng phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian Việt Nam” cho 03 thợ gốm. Đặc biệt là có gia đình hai thế hệ cha và con được UBND thành phố phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân Hà Nội” và một gia đình khác hai vợ chồng đều được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân.
Với tiềm năng làng nghề truyền thống tồn tại và phát triển liên tục nhiều trăm năm lịch sử, Làng gốm Bát Tràng ngày nay đã phát triển lên đỉnh cao mới. Gốm sứ Bát Tràng đã chiếm lĩnh được thị trường nội địa. Gốm sứ Bát Tràng đã xuất khẩu sang Châu Âu, Châu Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản. Hơn 50 công ty và gần 700 hộ gia đình đều tham gia sản xuất kinh doanh gốm sứ. Có doanh nghiệp một năm xuất khẩu doanh thu đạt 1 triệu USD.

Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân làng nghề được cải thiện, Bát Tràng được nhà nước quan tâm định hướng phát triển kinh tế và hạ tầng xã hội. Nhân dân tích cực đóng góp xây dựng làng, xã. Các di tích kiến trúc được trùng tu, tôn tạo, Đình - Đền - Chùa - Văn Chỉ là di tích lịch sử được xếp hạng. Hai di tích cách mạng, di tích kháng chiến được gắn biển. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ ngày 20/02/1959, khi Người về thăm làng gốm Bát Tràng: “ Làng Bát Tràng mới phải làm sao trở thành một trong những làng kiểu mẫu ở nước Việt Nam mới, nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Người dân quê gốm Bát Tràng đang nỗ lực thi đua phát huy truyền thống của nhiều thế hệ ông cha phấn đấu thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành hiện thực tại quê hương làng gốm.
Tour liên quan:

Điểm du lịch Hạ Long lễ 30-4: Vịnh Hạ Long

Vị trí: Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, là một phần phía tây Vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn. Phía tây nam giáp đảo Cát Bà, phía tây giáp đất liền với đường bờ biển dài 120 km, Vịnh có tổng diện tích 1553 km2 gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Vùng Di sản được Thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam) và đảo Cống Tây (phía đông).


Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo bởi địa danh này chứa đựng những dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên với sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng, với nhiều hang động kỳ thú quần tụ thành một thế giới vừa sinh động vừa huyền bí. Bên cạnh đó, vịnh Hạ Long còn là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình cùng với hàng nghìn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng. Nơi đây còn gắn liền với những giá trị văn hóa – lịch sử hào hùng của dân tộc.

Giá trị thẩm mĩ: Vịnh Hạ Long nổi bật với hệ thống đảo đá và hang động tuyệt đẹp. Đảo ở Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía tây nam vịnh Hạ Long. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình Carxto bào mòn, phong hoá gần như hoàn toàn tạo ra một Hạ Long độc nhất vô nhị trên thế giới.

Hàng trăm đảo đá, mỗi đảo mang một hình dáng khác nhau hết sức sinh động: hòn Đầu Người, hòn Rồng, hòn Lã Vọng, hòn Cánh Buồm, hòn Trống Mái, hòn Lư Hương... Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp gắn với nhiều truyền thuyết thần kỳ như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Sửng Sốt, hang Trinh Nữ, động Tam Cung... Đó thực sự là những lâu đài của tạo hoá giữa chốn trần gian. Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là "kỳ quan đất dựng giữa trời cao”.

Giá trị lịch sử địa chất: Vịnh Hạ Long được đánh giá qua hai yếu tố: lịch sử kiến tạo và địa chất, địa mạo. Đặc trưng cơ bản của Vịnh Hạ Long 1000 năm qua là biển lấn mở rộng Vịnh, xói lở mạnh các bãi bằng sú vẹt, nước Vịnh trong hơn, mặn hơn và san hô phát triển. Quá trình ăn mòn của nước biển tích cực tạo nên các ngấn sâu làm tăng thêm vẻ đẹp kỳ thú độc đáo của địa tầng Carxtơ. Vịnh Hạ Long là kết quả của quá trình tiến hoá địa chất lâu dài. Du khách đến vịnh Hạ Long không chỉ đến với kỳ quan của thế giới mà còn đến với một bảo tàng địa chất quý giá được gìn giữ ngoài trời đến 300 triệu năm. Những hang động chính là bằng chứng sinh động về quá trình xâm thực của mực nước biển qua các kỷ địa chất. Môi trường địa chất vịnh Hạ Long còn là nền tảng phát sinh các giá trị khác như đa dạng sinh học, văn hóa khảo cổ và các giá trị nhân văn khác.


Vịnh Hạ Long tập trung đa dạng sinh học cao với các hệ sinh thái của vùng biển nhiệt đới như: Hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới và đặc biệt là hệ sinh thái tùng áng đặc thù.

Đến nay sơ bộ đánh giá hệ thực vật trong vùng vịnh Hạ Long có khoảng 347 loài, thực vật có mạch thuộc 232 chi và 95 họ. Trong tổng số 347 loài thực vật đã biết, có 16 loài đang nằm trong danh sách đỏ của Việt Nam đã nguy cấp và sắp nguy cấp. Trong các loài thực vật quý hiếm, có 95 loài thuộc cây làm thuốc, 37 loài cây làm cảnh, 13 loài cây ăn quả và 10 nhóm có khả năng sử dụng khác nhau.

Các đảo tại vịnh Hạ Long có các loài động vật thân mềm đa dạng, đặc biệt là các loài cư trú trong hốc đá, và có tới 60 loài động vật đặc hữu. Hải sản Hạ Long được khai thác và nuôi trồng bao gồm bào ngư, hải sâm, sá sùng, tôm, cá, mực (mực ống, mực nang, mực thước), bạch tuộc, sò huyết, trai và điệp nuôi lấy ngọc…

Vịnh Hạ Long còn là vùng đất mang trong mình những trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc Việt Nam với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn - nơi có thương cảng cổ sầm uất vào thế kỷ thứ 12, có núi Bài Thơ lịch sử, và cách đó không xa là dòng sông Bạch Đằng - chứng tích của hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của các thế hệ ông cha chống giặc ngoại xâm. Không chỉ có vậy, Hạ Long còn là một trong những cái nôi của con người với nền Văn hoá Hạ Long huy hoàng thời Hậu kỳ Đồ Đá mới tại những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng...

Ngày 17/12/1994, trong phiên họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan, vịnh Hạ Long chính thức được công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng về mặt thẩm mĩ, theo tiêu chuẩn của Công ước quốc tế về bảo vệ tự nhiên và văn hóa thế giới. Ngày 2/12/2000, tại Hội nghị lần thứ 24 tại thành phố Cairns, Queensland, Úc, Hội đồng Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn về giá trị địa chất, địa mạo. Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang xúc tiến đệ trình UNESCO công nhận Vịnh Hạ Long là Di sản thế giới lần thứ 3, dựa trên những giá trị về khảo cổ học và đa dạng sinh học trong vùng Vịnh.

ĐIỂM THAM QUAN


Khu du lịch Đảo Cống Tây
Khu du lịch đảo Tuần Châu
Hang Sửng Sốt 
Đảo và bãi tắm Ngọc Vừng
Biển Quan Lạn
Động Thiên Cung
Động Mê Cung
Đảo và bãi tắm Ti Tốp 




THÔNG TIN CẦN BIẾT
Giá vé tham quan vịnh Hạ Long (đơn vị tính: đồng):

Phí tham quan vịnh được áp dụng cho từng tour cụ thể:
Tuyến tham quan vịnh
Giá vé cho 1 người lớn
Giá vé cho 1 người Việt Nam cao tuổi
Giá vé cho 1 trẻ em
Tuyến 1:Động Thiên  Cung – Hang Đầu Gỗ - Hòn Chó Đá - Làng chài Ba Hang - Hòn Đỉnh Hương - Hòn Trống Mái (Cặp Gà) - Làng chài Hoa Cương
80.000
40.000
40.000
Tuyến 2:Hang Sửng Sốt, Đảo Ti Tốp (hoặc Hòn Soi Sim) - Động Mê Cung - Hồ Động Tiên (hoặc Hang  Trống hoặc Hang Trinh Nữ hoặc Hang Bồ Nâu hoặc Hang Luồn)
90.000
45.000
40.000

Tuyến 2 và nghỉ đêm:Hang Sửng Sốt - Đảo Ti Tốp hoặc hòn Soi Sim - Động Mê Cung - Hồ Động Tiên (hoặc Hang Trống hoặc Hang Trinh Nữ hoặc Hang Bồ Nâu hoặc Hang Luồn).

Điểm nghỉ đêm : Hòn 690 - Lạch Đầu Xuôi - Hòn Lờm Bò (hoặc Hang Trinh Nữ - Hang Trống hoặc Hồ Động Tiên - Hang Luồn  hoặc Hòn 587 Hang Lát).
130.000
65.000
60.000
Tuyến 3:Trung tâm Văn hóa làng chài Cửa Vạn - Làng chài Cửa Vạn - Hang Tiên Ông - Hồ Ba Hầm
60.000
30.000
30.000
Tuyến 3 và nghỉ đêm:Trung tâm Văn hóa làng chài Cửa Vạn - Làng chài Cửa Vạn - Hang Tiên Ông -  Hồ Ba Hầm.

Điểm nghỉ đêm: Hồ Ba Hầm (hoặc Làng chài Cửa Vạn).
100.000
50.000
50.000
Tuyến 4:Hang Cỏ - Hang Thầy - Làng chài Vông Viêng - Hang Cạp La - Làng chài Cống Đầm hoặc Khu sinh thái Tùng Áng - Cống Đỏ hoặc Hòn Xếp

60.000
30.000
10.000
Tuyến 4  và nghỉ đêm:Hang Cỏ, Hang Thầy, Làng chài Vông Viêng, Hang Cạp La, Làng chài Cống Đầm hoặc Khu sinh thái Tùng Áng-Cống Đỏ (hoặc Hòn Xếp).

Điểm nghỉ đêm Cống Đỏ
100.000
50.000
30.000
Tuyến 5: Cảng tàu – Bến Gia Luận (Cát Bà – Hải Phòng):Hòn Chó Đá, làng chài Ba Hang, Hòn Đỉnh Hương, Hòn Trống Mái (Gà Chọi), Làng chài Hoa Cương
40.000
20.000
20.000
Tham quan bổ sung điểm dành cho người lớn: Hang Ba Hang hoặc Hòn Soi Sim
(Khi khách tham quan đã có vé tham quan tuyến 1 hoặc tuyến 2 tương ứng)
20.000
10.000
10.000
Tham quan bổ sung điểm trong tuyến:Hang Bồ Nâu (hoặc Hang Luồn hoặc Hang Trống hoặc Hang Trinh Nữ )
(Khi khách đã có vé tham quan tuyến 2)
10.000



Lưu ý:

Mỗi loại vé tham quan vịnh có thể dùng chung cho nhiều đối tượng khách khác nhau và các nội dung tham quan khác nhau nhưng chỉ có giá trị đối với một trong những nội dung tham quan (tuyến hoặc điểm tham quan) được ghi trên vé. Khách đã mua vé tham quan một tuyến nếu có nhu cầu tham quan các tuyến khác hoặc điểm tham quan bổ sung thì phải mua thêm loại vé có mệnh giá qui định theo tuyến (điểm tham quan bổ sung) đó.
- Vé tham quan chỉ có giá trị một lần sử dụng cho 1 người trong ngày, khách mua vé nghỉ đêm trên vịnh có giá trị sử dụng từ 12 giờ ngày hôm trước đến 12 giờ trưa ngày hôm sau.
 - Người cao tuổi được hưởng ưu đãi theo Thông tư 127/2011/TT-BTC phải là công dân Việt Nam đủ 60 tuổi trở lên (theo Điều 2 Luật Người cao tuổi) và phải xuất trình giấy CMND hoặc giấy tờ hợp lệ khác chứng minh là người cao tuổi. Trẻ em dưới 6 tuổi miễn vé, đủ từ 6 đến 15 tuổi thu theo mệnh giá ghi trên vé.
 Dịch vụ du lịch khác:
- Tour tham quan vịnh bằng du thuyền: Du khách sẽ có cơ hội nghỉ đêm tại những điểm tham quan trên vịnh như hang Bồ Nâu, hang Sửng Sốt, hang Luồn, hang Trinh Nữ, đảo Cống Đỏ, hồ Ba Hầm và tham dự tiệc rượu tại hang Trống. Giá tiền tùy theo từng loại du thuyền và thời gian tham quan trên vịnh.
- Tour chèo thuyền kayak khám phá vịnh: Du khách có thuê kayak ở cảng tàu khách du lịch Bãi Cháy hoặc các làng chài với giá từ 100.000 – 200.000 đồng/giờ, tùy loại thuyền 1, 2 hay 3 chỗ.
- Tại bãi tắm trên đảo Ti Tốp và đảo Soi Sim, du khách có thể lựa chọn các loại hình giải trí biển như dù bay (có xuồng kéo), lái môtô nước, đi xuồng “bay”, kéo chuối (ngồi trên xuồng caosu do xuồng cao tốc kéo)...
- Tại khu vực hồ Cống Đỏ và hồ Ba Hầm có dịch vụ câu cá, lặn biển khám phá rạn san hô.
- Khám phá vịnh bằng trực thăng do Công ty TNHH MTV Trực thăng Miền Bắc tổ chức (điện thoại: (84-4) 3877 1410/ máy lẻ 105; Hotline: 0983848909 hoặc 0983116067; email:marketing@northernsfc.vn;)
- Tour tắm biển, leo núi ở đảo Ti Tốp; du lịch sinh thái ở hòn Soi Sim; du lịch văn hóa cộng đồng ở làng chài Cửa Vạn, Vông Viêng…
- Dịch vụ ăn uống: Du khách có thể đặt thực đơn với chủ tàu trước khi tàu khởi hành 1 tiếng để vừa thưởng thức các món đặc sản biển trên vịnh, vừa thưởng ngoạn phong cảnh tuyệt vời của Hạ Long.
- Đồ lưu niệm: Du khách có thể mua đồ lưu niệm (sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống được làm từ than đá, gốm sứ, ngọc trai, vỏ ốc, vỏ sò, gỗ, thủy tinh; các loại khảm trai, tranh thêu, bưu ảnh, bản đồ vịnh Hạ Long…).
Ban Quản lý Vịnh Hạ LongTrụ sở: 166 Lê Thánh Tông, TP. Hạ Long, Quảng Ninh.
Điện thoại: (84-33) 382 4867            
Fax: (84-33) 382 1307
Email: banquanlyvinhhalong@hn.vnn.vn
Website: http://halongbay.com.vn

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2013. Chia sẻ kinh nghiệm du lịch - All Rights Reserved
Share by Download Templates
Proudly powered by Blogger